Saturday, November 9, 2019

Thiên đường một thuở

Anh đến tự bao giờ
lặng nhìn em qua rào thưa
trời trưa nắng hạ.
Vườn trầu xanh êm ả
tóc em dài
chiếc nón lá chao nghiêng
Một góc nhìn nối mộng bình yên
đưa tay hái trái nhãn lồng chín đỏ
Đâu biết ngoài kia
anh muốn làm con chim nhỏ
tựa bên em say mật ngọt nhãn lồng
Giấc mơ đời xanh như một dòng sông
với khúc Lý Chim Quyên
ru tình nồng năm tháng
Trải hồn thơ
cho thi tình lãng mạn
ta say sưa quên mất lối đi về
Em cũng như anh
tròn kiếp đam mê
ôm bóng mát ca dao
nghe lời quê lắng đọng
Một chiếc lá rơi
mặt hồ gợn sóng
đủ cho ta thao thức một trời buồn
Chấp cánh hồng bay bổng giữa yêu thương
vang khúc hát trong thiên đường mơ ước
                         MTT
                (ATL-Dec.02.2000


Dòng đời

Xuân về gửi mộng cho nhau
Hà hương xông tóc, hái sao lưng trời
Bướm bay trên mắt môi cười
Hồn thơ hoa nở ngát lời yêu thương

Hạ hồng cháy đỏ cội nguồn
Giọt mưa thấm mát những non núi tình
Trái đời đơm lộc cành xanh
Tiếng tim trầm ấm ru mình cùng say

Thu bay theo lá vàng bay
Cho người góc biển chân mây ngậm sầu
Phong trần một cuộc bể dâu
Bến ngân ngồi đợi nhịp cầu sang sông

Nhạt nhòa bóng ngã chiều Đông
Tóc pha sợi bạc, lưng còng gió sương
Dìu nhau còn mấy bước đường
Trả ta cát bụi về phương trời nào

                        MTT
              (ATL- Mar.16, 2002

Thursday, November 7, 2019

Hân hạnh giới thiệu 2 tuyển tập thơ của Nhà thơ: Dương Ngọc Ánh và phu nhân: Mai Thanh Tuyền (Một Đời Cỏ Dại và Mây Xa)



Mây xa mờ mịt cố hương
Tháng ngày che khuất dáng thương quê nhà
Vần thơ ôm chặt tuổi già
Khát khao hình bóng mượt mà núi sông
Chứa chan thầm kín trong lòng
Giọt buồn lạnh cõi long đong xứ người....

Bạn đọc thân mến:

Chúng tôi sẽ lần lượt post giới thiệu những bài thơ của 2 tác giả
Mai Thanh Tuyền và Dương Ngọc Ánh trong trang riêng của 2 thi hữu trên, thân mời các bạn ghé đọc thưởng thức.
Nguyễn Hải

Saturday, October 19, 2019

Trở Giấc


Đêm nằm nghe tiếng mưa rơi

Bên thềm hiu hắt khi vơi khi đầy
Mưa len qua trái tim gầy
Vỡ thành nỗi nhớ những ngày tháng xa…

Mùa này phượng đã đơm hoa

Con ve chắc cũng về qua sân trường
Một thời biết mấy yêu thương
Mang theo suốt những năm trường xa quê.

Rồi ngày trở gót tìm về

Quạnh hiu cửa khép, bốn bề nắng rơi.
Đã qua gần hết một đời
Có còn chi nữa mà vời vợi thương!

Người về nhạt phấn phai hương

Điệu buồn rơi giữa sân trường nhặt thưa…
……

Ngoài kia trời vẫn cứ mưa

Trở mình vài bận - cũng vừa tàn đêm.

PHAN MẠNH THU


Sunday, October 13, 2019

Người đi trăng cũng ngậm ngùi

Tiếc thương tiễn đưa nhà thơ Du Tử Lê


Thơ: Ngọc Hân Trịnh
Phổ nhạc: Hà Lan Phương

Trình bày: Hà Lan Phương


Saturday, October 12, 2019

Sunday, September 29, 2019

Quan Phu

Hoa nắng chiều nay vàng úa rũ
Trải xuống long lanh chiếc thảm buồn
Cõi sầu trên mắt hoen lệ cũ
Ướt đẫm vào lòng những đau thương

Chiếc lá còn xanh mà rơi vội
Để cành khô khốc nẻo buồn tênh
Một góc trời xưa lên tiếng gọi
Những mùa thu nhớ vẫn chưa phai 

Trăng ơi trăng đã già như cuội
Soi bóng tìm ai giữa âm thầm
Ngỡ ngàng đêm mộng thêm lần cuối
Dĩ vãng đưa về lối cỏ hoang

Đàn chim lặng lẽ rời tổ ấm
Bay khắp tìm nhau dưới mây trời
Ai tiễn chào ai ngoài xa thẳm
Một chuyến tạ từ ngỡ hôm qua

Người thương xa khuất từ buổi ấy
Gửi lại vấn vương như núi đồi 
Sóng vỗ tìm bờ trên biển vắng
Giữa dòng thương tiếc mãi chia phôi

Bàn tay sạm nắng thời gian chảy
Chiếc bóng cô liêu hát tình sầu
Mênh mang ngày tháng bên tuổi dại 
Giấc mộng còn đây, lẻ loi đời...

Trường Đinh
UK, sương mù già 2019



Saturday, September 28, 2019

Trên Những Tình Mưa Biển

Chiều hôm nay đã vàng trời cuối hạ. Lá thu đã bắt đầu rơi dọc theo đường về như những cánh thư tình không người nhận, vẫn còn luyến thương mịt mờ trước gió trong một buổi hoàng hôn định mệnh. Một mình anh dấn bước men theo con lối nhỏ quen thuộc mà anh vẫn thường lang thang vào những chiều cuối tuần. Dòng mây nhỏ vẫn êm trôi. Biển Irish Sea vẫn miệt mài tìm bến nhớ trên vừng cát Blackpool, vẫn u hoài với nỗi đau sóng vỡ từng cơn. Mây vẫn giăng mờ một góc nhỏ cuối trời xa, như cảm thông nhất thời đã phủ dần theo chiều sâu biển lạnh. Anh đi dần ra bờ cát biển. Gió man mác nhẹ ru êm theo lời vang của sóng. Điếu thuốc Benson giữa hai ngón tay anh vẫn còn say ân ái, đâu biết rằng ánh màu chính nó đã tắt ngúm từ độ nào, như cuộc tình đỏ hoang mê của chúng mình đã rụi tàn theo định mệnh tháng ngày. Ngồi xuống bờ rêu đá, anh nhìn theo từng đợt sóng nhỏ bềnh bồng. Biển chiều nay thật êm, êm như hạnh phúc em vẫn mặn nồng mà anh đã cầu chúc cho em sẽ mãi ấm vui trong vòng tay mới.

Em có biết, mây trời chiều nay bạc màu như dốc tuổi đời anh, như sương mù già còn soi mình long lanh trên ngọn cỏ úa. Mây buồn vẫn bay từ cuối nền trời xa mù khơi. Và rồi, ký ức lại về, anh chạnh nhớ đêm ấy, lần gặp gỡ cuối với em. Người bạn gái mà anh đã quen một thuở. Mình đã quen nhau một năm rồi đó, em có còn nhớ? Mình quen nhau dưới ánh trăng thu khi em còn lẻ loi và khi anh cô độc, với sắc màu Gomoku của những con cờ đen trắng cảm thông nhau, chắc em vẫn còn nhớ? Và đêm mình chia tay cũng vào lúc trăng thu đổi màu trên đỉnh núi buồn, và trăng tạ từ đã một lần soi mình ướt đẫm trên mắt môi em... trong trái tim anh... Em, đêm đó, đêm giã từ của mưa và của biển, anh còn nhớ, em nói thật nhiều và anh chỉ im lặng lắng nghe. Lời cuối cùng em chào anh, anh vẫn nhớ. Để hiểu rằng, từ đây em sẽ không còn ngây thơ nữa, và để anh vẫn mãi phong sương một đời.

Mặt đất đêm soi xám bạc màu trời. Lá thu vẫn rơi. Cơn mưa một màu vẫn ngàn bay cuối phố, vẫn trắng xóa vùng trời. Sóng dạt từng cơn. Em ơi, bên khung trời mới, em có hay thường dạo ven bờ biển nhỏ vào những chiều cuối thu, để lắng nghe sóng thì thầm trong nắng lạnh, để nghe gió tình tự nhớ thương. Anh vẫn nhớ, nhớ mãi nụ cười em đó. Nhưng mệnh tình đâu thể nào trách cứ ai, phải không em? Anh vui khi em tìm được người trong mộng và anh rất mừng em hạnh phúc những ngày sau. Giữa biển và mây trời chỉ là đó với một chút duyên mơ, đủ để trọn vẹn cho lời ca thẳm bí và dịu vời của đất trời.

Mưa vẫn rơi hạt nhỏ trên từng làn sóng bạc, gió vẫn còn ngân dài tiếng hát ru mơ, như tiếng rơi của giọt tình đêm, vấn vương mãi trên từng mạch máu tim xanh. Em hạnh phúc nha em, anh nhớ anh đã nói lời cuối cho em mà: "Anh chúc em hạnh phúc" - ngắn gọn chỉ chừng 5 chữ đó cho em, gởi em, riêng em, với tất cả những cô đọng trong mối tình anh trên khung ngữ tự. Nhưng anh và em hãy giữ mãi trong lòng những kỷ niệm xưa, nếu nó vẫn còn đó cho em. Em hãy nhớ màu trời đổi dạng từng đêm nhưng mây trời vẫn đẹp mãi theo cánh chim bay. Màu mây đêm nay mình thấy đó, cũng sẽ có ngày em thấy lần nữa trong giấc mơ xưa. Ngày mai mình có gặp nhau, em sẽ có các cháu bé ngoan ra đứng cửa chào anh nè. Đứa con gái lớn em đặt tên là Thảo Nguyên nha em. Em vẫn còn nhớ lời em đã nguyện trong đêm trăng, với gió mưa bay và hạt thơ reo làm nhân chứng. Anh mãi nhớ và em hãy nhớ đêm trăng soi bóng lẻ bên kia trời biên giới. Em gắng nhớ nha em, và anh ước nguyện em mãi hạnh phúc trên biển đời như mơ.

Mãi trong trí tưởng anh, ký ức của ngọn tình xưa vẫn còn đầy. Anh vẫn mong rằng kỷ niệm chiều đừng xóa mờ tan. Anh biết em vẫn nhớ, em biết anh vẫn mong, một chút gì vấn vương trên nụ cười dĩ vãng. Em vẫn trong anh như ngọn sóng buồn, vẫn dệt trùng khơi nét mộng ngày nào. Những ngày bên nhau vẫn xanh, mãi vẫn xanh nha em, như ngọn thủy triều tình vẫn reo vang dưới màu mưa dĩ vãng.

Châm thêm điếu thuốc mới, bật lên que diêm còn sót lại, một chút khói mờ bay, anh cảm thấy đắng đầu môi. Làn khói vươn mình cất cao theo cánh gió buồn như tâm tư vẫn còn ray rứt mãi trong trái tim người. Trời đã chiều hơn, đậm nét những mây buồn đang trôi. Mưa đã nhỏ hạt, từng hạt, trên biển cô đơn một màu âm thầm lạnh. Chiều nay, biển nơi đây thật vắng, chỉ duy có mình anh đang nhìn sóng ngỏ lời tự tình với mưa. Gió vẫn bay, mưa vẫn rơi, anh vẫn một mình nhìn ngắm tư duy chính mình. Từng ngọn sóng tung chạy trên biển khơi, anh tự nhủ, chắc nhẽ, mệnh tình giữa mưa và biển cũng mặn nồng những men hương tình ái, có phải không em? Nó cũng như màu kỷ niệm tình và nụ hôn linh tri đầu tiên em trao gởi, vẫn ngọt vẫn nồng như hương áo hoa trời, vẫn đẹp dịu hiền như ngày nào em còn ngây thơ trong áo trắng nữ sinh.

Đêm nay, bây giờ, em đã lớn nhiều, đã có trách nhiệm chung đôi và đời sống gia đình riêng, em hãy gắng giữ nó nha em, hãy hạnh phúc cho chính mình và cho người, em nhé. Nè em, đừng có như anh mãi lang bạt trên khắp biển đời tha phương, và em đừng như anh mãi reo nắng thơ để buồn gió hạ. Hạnh phúc nha em, đấy là lời tiễn cuối của anh từ linh hồn và trái tim mù khơi viễn xứ. Và sau đêm chia tay, em vẫn sẽ mãi hiếu thảo cùng Mẹ Cha nha em. Niềm vui của Mẹ là niềm vui của cuộc sống em, hãy hãnh diện được làm người nha em, được làm người con hiếu thảo như em đã từng nguyện đó. Em hãy nhớ lời anh nói, một nụ cười của Mẹ Cha hôm nay là hạnh phúc ngàn đời của chính em đó, em nhớ nha em.

Chiều trời đã buông nặng trên mặt biển. Mưa bắt đầu rơi hạt lớn. Sóng biển vẫn vỗ đều. Anh thấy được và cảm nhận được mối tình linh tri của Mưa và của Biển. Đó là những mệnh tình vô tận của thiên nhiên. Hãy lắng nghe mưa biển và hãy ca ngợi cho tình yêu nha em. Anh đã có lần nghe từ biển sóng có tiếng ca rất buồn, như nhịp thở cuối cùng của con tim sóng nhỏ. Em à, em có biết anh vẫn yêu em như ngày nào. Dẫu em xa trùng khơi, anh vẫn yêu mãi nét màu kỷ niệm một thời, và anh vẫn nhớ mãi nụ cười em đẹp như trăng đêm.

Mây vẫn bay. Đêm đã về. Vẫn mãi trong anh còn âm vang tiềm thức, tiếng hát buồn năm xưa còn ngất cao từ một vừng không gian tím, sẽ không bao giờ quên lãng. Nè em yêu, em cũng đừng quên mùa thu năm đó, khi mình đã quen nhau dưới hạt trăng mơ. Nhưng em đừng buồn em ơi, hãy gắng vui với người mộng nha em. Anh biết, em sẽ vui nhiều, chuyện chúng mình chỉ là mưa yêu trên biển lạnh, bởi tên của anh và em chỉ là những khắc hình của Chia Ly, nó không ghép nghĩa để là Chung Lối như anh đã từng mơ ước. Em hãy vui cùng kỷ niệm nha em, của vỡ lỡ anh và em một thời. Hãy gắng giữ nó cho đẹp màu dĩ vãng nha em. Để mãi ngày sau, anh vẫn còn nhớ những nụ cười em đêm qua. Anh chúc em hạnh phúc rộ, như ngàn hoa nở đóa dưới những mảng trời xa xưa ấy...

Mưa rơi là nước mắt tình đã phai rồi
Mây trôi là nỗi nhớ tiếc thương mà thôi
Hạnh phúc, sao mắt môi em còn chơi vơi
Sao trái tim anh còn chưa nguôi
Những xót xa một thời

Mong manh đời như lá vàng úa trên cành
Long lanh giọt lệ ấm khóc cho tình xanh
Còn đấy bao tháng năm âm thầm anh mang
Bao vấn vương cho đời thênh thang
Những nỗi đau muộn màng

Anh nhớ có mùa thu mây giăng lối
Cơn mưa buồn tóc rối ướt bờ môi
Em đã trao anh nụ hôn đầu vòng tay ấm vui
Anh hát cho em bài tình ca đôi mươi

Lang thang tìm đâu thấy người đã đi rồi
Mênh mang đường phố vắng bước chân lẻ loi
Người hỡi, em có nghe lá vàng rơi rơi
Em có hay khi mùa thu tới
Ta mất nhau một đời (*)

Trường Đinh
UK, sương mù già 2019

(*) Nỗi Đau Muộn Màng - Ngô Thụy Miên viết tặng, kỷ niệm văn nghệ vĩ tuyến.

Lời ca tiếng Anh: SO LATE CAME OUR PAIN

- Lyrics translated by Trường Đinh

Our rain like sad tears fading the love
Clouds fly, memories sadly remained
Of joy, why your eyes in deep sorrow
Why my heart still longs for love
From our past of time

My life is so frail as withered leaves
Your eyes glistenning with streaming tears
My heart in silence carries the pain
Memories of our love life
So late came our pain

Autumns returning from our past
Of your smiles soaking in the rain
Of our embrace a first kiss saying good bye
Of our love songs last only short while

Lone sky, dim shadow, since you have gone
In mine, empty life of solitude
My love, did you hear the leaves falling?
Autumn came, life fading fast
We're forever apart...



Friday, September 20, 2019

Người Việt về đâu?

Sáng tác: Hà Lan Phương
Tác giả trình bày

Thư ngỏ cho Đảng Cộng Sản Việt Nam



Thư Ngỏ gửi các đảng viên Cộng Sản Việt
Nam
(Đọc và nhìn lại chính mình)
Tác giả: Cựu đảng viên CS Lê Minh Đức

Nếu một người cứ đứng trên quan điểm phân biệt bạn thù của đảng cộng sản Việt
Nam, thì tôi nói thật hận thù đó không nguôi được. Vì sao ư? Vì quá nhục.

Này nhé. Ta chiến đấu vì lý tưởng cộng sản, coi Mỹ là kẻ thù giai cấp, kẻ thù của hoà bình thế giới. Ta thắng nó với lòng tin rằng chẳng bao lâu sau thằng tư bản sẽ quỳ gối trước mặt phe cộng sản để cầu xin ân huệ.

Thế mà tất cả những gì ta hy sinh cho cuộc chiến 20 năm máu lửa đó, trong phút chốc bỗng biến thành trò cười rẻ tiền. Chủ nghĩa cộng sản sụp tan thành mây khói. Nay ta quay lại cầu xin nó, theo đuôi nó xây dựng chủ nghĩa tư bản, năn nỉ nó công nhận ta là kinh tế thị trường.

Bao thế hệ hy sinh chống Mỹ để thấy những thế hệ sau chiến tranh lớn lên hướng về văn hoá Mỹ, cuồng Mỹ. Hoá ra những gì ta làm trong quá khứ đều sai, đều ngu muội, đều vì ta có tầm nhìn không quá lũy tre làng.

Hỏi như thế có nhục không? Mà nhục như thế thì quên thế nào được. Nay ta trải thảm đỏ mời Mỹ quay lại. Cái mặt dày đểu cáng ta biết giấu vào đâu? Đành phải lôi lại chuyện quá khứ rằng Mỹ giết dân ta. Thì sao, nó không giết ta, để ta giết nó hay sao?

Trong cuộc chiến tranh do ta chủ trương, có thằng nào không phải là Việt Cộng trong mắt người Mỹ. Ta sống trong dân, ta giấu vũ khí trong vườn nhà dân. Dân và ta đều quần đùi đen, áo bà ba đen, tay cầm liềm cắt cỏ mà AK 47 giấu trong bờ ruộng. Ta đánh úp nó chết nhăn răng vì nó tưởng du kích ta là dân lành.

Trong khi đó ta giết chính đồng bào ta, ta trói đồng bào ta như trói gà, rồi ta chặt đồng bào ta làm ba khúc sau vườn. Ta dùng cuốc đập đồng bào ta vỡ sọ. Ta chôn sống đồng bào ta sau khi bắt chính họ đào huyệt...

Ta tuyệt đối không nhắc lại chuyện đó. Ta tuyệt đối tìm cách quên rằng thằng đàn anh Trung Quốc đã giết đồng bào ta còn tệ hơn giết chó, máu chảy thành sông ở biên giới phía Bắc. Và ta vẫn tiếp tục thờ lạy nó.

Ta là ai? Ta là đảng cộng sản Việt
Nam. Ta là thứ cặn bã của dân tộc này. Ta là thứ mọi rợ đạo đức giả. Ta là loài khỉ đột đã xua đuổi được mọi nền văn minh để tiếp tục tự sướng với nhau trong bóng tối của thời trung cổ.

Và còn nữa? Hãy chờ xem ta sẽ nghiến nát kẻ thù (nhân dân) như đàn anh Trung Quốc của chúng ta dùng xe tăng xay thịt nhân dân chúng nó thành thức ăn cho súc vật trên quảng trường Thiên An Môn.

Ta là quái thai thời đại. Ta không xứng đáng đứng ngang hàng với loài người văn minh trên trái đất này. Thảm họa diệt chủng đã hiện ra trước mắt, không ai có thể cứu được dân tộc Việt Nam khỏi thảm họa này, ngoài 90 triệu người Việt.

Mỗi người cần nhìn thấy cái chết đang đến với chính mình và con cháu mình. Hãy chuyển tải thông tin này tới tất cả mọi người, tới mọi tờ báo, mọi phương tiện thông tin để mọi người cùng biết, cùng nhau đứng lên chống thảm họa diệt chủng đã đến trước mắt, để cả thế giới cùng biết và lên tiếng bảo vệ chúng ta.

Lê Minh Đức  

Tuesday, September 17, 2019

Người Việt về đâu?

Ta sinh ra là người Việt Nam
ta thịt da đượm màu lúa vàng
ta nửa đời ôm lấy quê hương
ta quặn đau mất mát tang thương

Ta ra đi để lại phố phường
ta bạt trôi một kiếp tha hương
ta xa em xa chị xa anh
ta mất đi cả một quê hương

Ta hỏi ông trời sao không có mắt
ta hỏi anh em sao đấu đá tranh thua
ta hỏi loài người câu hỏi ngu ngơ
ta là ai chỉ là một gã khờ

Ta than van người Việt về đâu
ta trông mong điều gì nơi này
ta buông xuôi lặng nhìn mây trôi
ta ta ơi thật quá xa vời

HLP

Sunday, September 15, 2019

Nắng Chiều

Nắng mờ phai cùng chim bay về tổ
Tiếng chuông chùa như gõ xuống giấc chiều
Sài Gòn ơi, cả một trời thương nhớ
Mẹ cha già nơi cuối bãi đìu hiu

Nắng vàng rơi như lời người tiễn gọi
Chia cách đời làm hai nẻo xa xôi
Lệ trong mưa là dòng sông biết nói
Điệu ru hò, mãi da diết vào lòng

Nắng nhạt dần như chào người bước lại
Trở về nơi đã xa xưa thuở nào
Ai có biết niềm đau người xa xứ
Vẫn dật dờ ngàn tiếc nhớ lao đao

Nắng tan mờ giữa bầu trời xa vắng
Dư âm về trên những lời mẹ ru
Đời tha phương, tháng ngày mong manh quá
Cơn gió chiều làm giá buốt thiên thu

Nắng chợt nhòa để rồi bay xa khuất
Thoảng là bao khi tiễn lá thu vàng
Áo trắng xưa, làn tóc đen dĩ vãng
Đã bạc mờ trên nhung nhớ muộn màng

Nắng rơi buồn như tìm về sông nước
Dòng Cửu Long còn sóng sánh lệ ngâu
Làm sao đếm ngọn sóng mờ năm tháng
Cho nhòa tan để vơi bớt mộng sầu

Trường Đinh
UK, sương mù già 2019




Saturday, September 14, 2019

ACTION RESEARCH

The effects of using computer maths games to develop functional numeracy skills with SEN students

Researched by Truong Dinh

INTRODUCTION

During the academic year of 2015-2016, the researcher was tutoring the able students who are young people aged 16-24yrs. The researcher’s focus is on ICT functional skills qualifications offered by the NCFE awarding body. Students are expected to develop their ICT skills using Microsoft Office. Students will learn how to set up formulas and create graphs on Excel. There is at least 20% of maths involved during the learning process.

The college, where the researcher is working, offers courses to students with learning difficulties. According to Special Educational Needs and Disability Code of Practice (GOV.UK 2015, p.15), “A child or young person has SEN if they have a learning difficulty or disability which calls for special educational provision to be made for him or her”. The researcher’s concern is how to help SEN students overcome anxiety with maths and encourage them to develop their numeracy skills so that they can use these skills in everyday life. It is hoped that when the students improve their maths skills they will be able to answer the Excel questions in their ICT assessments with more success.

During the planning stage, the researcher first decided to use ICT to help develop numeracy skills with SEN students. After consulting with his course tutors, the researcher narrowed down his research and focused on maths games in order to make it manageable. “Mathematical games prove highly engaging” (Ofsted Nov 2011, p.9). The central question of the project was “what are the effects of using computer maths games to help SEN students improve their numeracy skills in everyday life?”.

Other qualitative aspects related to the central question were:

a) “Can computer maths games help to encourage SEN students to learn maths?”
b) “How can the tutor show learning maths is taking place within the sessions?”
c) “How can the tutor provide evidence to highlight the numeracy development progression of their students?”

Another aspect was the Ofsted inspection framework. Ofsted insists that it is good practice to embed maths into other sessions. The purpose is to develop students’ “understanding and enjoyment of using mathematics in everyday life” (Ofsted Nov 2011, p.10). Functional maths is one of the researcher’s strong subjects which he outlined in a SWOT analysis. Based on it, the researcher set up the aims of his action research:

“Using computer maths games to help SEN students develop their numeracy skills in everyday life.”

A hypothesis was also constructed:

“Using a variety of computer maths games, aimed at students' individual levels, created to engage and motivate, this will improve their functional numeracy skills.”

During the investigation, the researcher carefully considered ethical issues such as informed consent and confidentiality. Stringer (2007, p.54) advises “As researchers we have a duty of care in relation to all people we engage in processes of investigation”. The consent forms and schedules were sent to students’ parents so that the parents would know what their children were involved in. The researcher also took into account the possibility of participants withdrawing from the project during the investigation period. “People have the right to refuse to participate, they may withdraw from the study at any time” (Stringer 2007, p.55).

ACTION RESEARCH THEORY

Action research is a systematic investigation tool to help the investigators implement and develop new strategies in teaching and learning. Carr & Kemmis (1986, p.162) describe:
“Action research is simply a form of self-reflective inquiry undertaken by participants in social situations in order to improve the rationality and justice of their own practices.”

The key figures on action research include Lewin, Stringer, Freire, McNiff and Whitehead. Lewin was credited as the first person who coined the term “action research”. Lewin found that the process of traditional research was unsatisfactory for further development. He introduced a new form of research which was based on people’s real-life experience. Lewin proclaimed that theories needed to have practical applications. “There is nothing so practical as a good theory” (Lewin 1951, p.169).

The concept of action research has been developed since then. One of the well-known researchers is Stringer who expanded Lewin’s ideas into the academic research fields in order to improve the performance of teaching and learning. McNiff & Whitehead have further enhanced it with practical guidance for the educational world.

This study was based on the framework of Stringer. The five steps of a sequence (Stringer 2008, p.5) which the researcher adapted consisted of designing, collecting data, analysing data, communicating outcomes and taking action. According to Stringer (2007, p.1),

“Action research is a systematic approach to investigation that enables people to find effective solutions to problems they confront in their everyday lives.”

The purpose of action research is to find better ways to solve a particular problem that emerges from collaborative work in which the researcher and participants are engaged. According to Wallace (2013, p.1), “Research is an essential tool for raising and maintaining the quality of learning and teaching”. It presents “an approach to inquiry that seeks not only to enrich professional practice but also to enhance the lives of those involved” (Stringer 2007, p.3). Evidence of effective teaching strategies is shown through learning. Stringer (2008, p.13) states it is “to provide educational practitioners with new knowledge and understanding, enabling them to improve educational practices”.

Action research also has negative aspects. It is argued that action research is just an enhanced form of reflective journal. The teacher who does both teaching and researching would easily create biases within the project. The project does not seem to be carried out perfectly as the teacher is not a full time professional investigator. Another critic is that action research is a continual process based on a particular situation therefore it should not be considered as a typical solution to be applied for all circumstances in the education sector. The solution on one specific project should not be re-used fully in other projects but has to be studied again through the cycles in order to obtain meaningful results for a particular problem.

LITERATURE REVIEW

During the planning stage, the researcher did a review on literature. “The researcher, at whatever level of experience, is expected to undertake a review of the literature in their field.” (Hart 2007, p.9). The article “Online and other ICTs applications for teaching math in special education” (2014, pp.45-53) by Drigas & Ioannis was used as a guideline. This paper outlined the needs to improve learning by using technologies aimed at students’ ability and age. The investigators came up with evidence on the effectiveness of using ICT to teach maths.

An Ofsted report (Apr 2011) was used: “Tackling the challenge of low numeracy skills in young people and adults”. This report presented how to tackle the challenge of low numeracy skills in young adults in 59 training colleges. The paper evaluated the numeracy skills programmes for post-16-year-olds and identified the challenges faced by most providers:

“The potential for the use of information technology was not exploited sufficiently in advancing learners’ practical application of numeracy skills.” (Ofsted Apr 2011, p.6)

There is a gap between the application of functional numeracy skills and the use of information technologies in teaching.

The researcher also found several journals which he could use. The relevant literatures would definitely “help to define the focus and scope of the research project about to be undertaken” (Gray 2014, p.6).

1) “Computer-assisted teaching and mathematical learning in Down syndrome children” (2006, pp.298-307) by Tudela & Ariza.

This paper explored computer-assisted teaching by carrying out the project on 70 children. These children were selected at average ages of 6.3-6.8yrs without severe health problems. The researchers adapted a special multimedia software for these children which focused on simple counting. One group used multimedia teaching and the other with traditional methods. Tudela et al. applied the comparison techniques of the mean scores and standard deviations for data analysis. The results showed that the group using computer-assisted teaching had a higher performance in maths than the other group. Tudela et al. (2006, p.305) concluded in their findings:

“It could be suggested that the computer, and more specifically the use of multimedia teaching programs, optimizes the learning of these concepts for people with Down syndrome.”

2) “Effectiveness of computer-assisted instruction on enhancing the classification skills in second-graders at risk for learning disabilities” (2010, pp.1115-1130) by Mohammed & Kanpolat.

This paper investigated on the effectiveness of using computer-assisted instruction. It had been done with 68 children who were at risk of learning disabilities with the mean age of 7.35yrs. These children were trained to use computer-assisted instruction to classify selected items. Mohammed et al. adapted the complex statistical techniques for data analysis. The results showed that the group who used computer-assisted instruction performed their classification skills better than another group who did not use assisted technologies. Mohammed et al. (2010, p.1126) concluded in their findings:

“Computer-assisted instruction should be used with children who are at risk of learning difficulties.”

3) “The effect of using computer games in teaching mathematics on developing the number sense of fourth-grade students” (2013, pp.1477-1482) by Nejem & Muhanna.

This paper focused on the effects of using computer games in teaching mathematics. It studied a sample of 81 students. Nejem et al. particularly focused on the number sense tests of complex fractions and used the methods of comparisons of the means for data analysis. The evidence showed that the experimental group achieved higher scores on the number sense tests than the control group. Nejem et al. (2013, p.1481) claimed in their findings:

“Computer games enhance the motivation of the students and draw their attention to learning mathematics by eliminating the elements of boredom that might occasionally face the students.”

All these publications mainly focused on child education and individual teaching methods. According to Piaget (1936), children and adults have “different cognitive abilities”. None of these papers mentioned the use of technologies for group teaching. The researchers did not consider mixed learning abilities within adult classes, behavioural challenges or high needs students. Moreover, these publications did not mention any involvement with students’ parents in the process of learning. The main purposes of this study were to attempt to narrow down these gaps and to promote the use of technologies in order to motivate SEN students to learn maths. It is hoped that the evidence-based study on this project will advance understanding of adult learning in the special education sector.

METHODOLOGY & TRIANGULATION

The researcher applied the theory of methodological triangulation to his action research project. “The credibility of a study is enhanced when multiple sources of information are incorporated.” (Stringer 2007, p.58). For gathering qualitative data, the researcher used the methods of observations, evidence of students’ work and interviews. For collecting quantitative data, the researcher used a variety of methods such as tests, quizzes, checklists and questionnaires. According to Hart (2007, p.28),

“One of the most important outcomes of the search and review will be the identification of methodological traditions which, in turn, will help to identify data-collection techniques that can be considered for use in the work.”

During the planning stage, the researcher carried out an initial interview with the experimental group. The researcher set up the questionnaire for all the tutors at the college and conducted constructive interviews with his students in order to seek the answers to the action research questions. The questionnaires and interviews which were set up combined both quantitative and qualitative methods by using closed and open questions. “It helps to balance out any of the potential weaknesses in each data collection method” (Gray 2014, p.37). The researcher implemented this during the action research process and acted as both tutor and investigator (“Teacher as Researcher” - Stenhouse 1979). The researcher adapted several methods to measure students’ skills during the investigation such as developmental questions, practical tests, quizzes, observations and peer tutoring.

During the monitoring stage, the researcher observed students and collected their work. When observing students the researcher kept a record of their performance by using a research diary (“Start a research diary as soon as you start your research” - Bell 2014, p.44). In order to obtain further support in learning, the researcher tried to involve students’ parents by asking students to do their homework with parents’ confirmation.

The researcher thought using the tactics of rewards and parents’ involvement would encourage students to learn maths.

The reflective models which the researcher used throughout his project were Brookfield’s critical lenses (1995) and Schön’s reflective practice (1986). The researcher has found that using these models effectively enabled him to reflect on his own practice more practically. “Looking in the mirror: Action research as reflective practice” (Wallace 2013, p.28). The researcher adapted several suitable theories of teaching and learning during the investigation such as Bloom’s taxonomy (1956), Bruner’s scaffolding concept (1976), Maslow’s motivation theory (1987) and Vygotsky’s zone of proximal development (1978).

The project was implemented with two cycles. Each cycle went through stages consisting of planning, acting, observing and reflecting. During cycle 1, the initial interview with the experimental group was carried out and had been recorded for reference.

When the project started, one participant withdrew and two others moved to two different groups, so the researcher asked another student to take part. There were 5 participants in the experimental group but were in 3 different groups. Four participants in the control group were also allocated ready for the pre-tests.

The researcher collected feedback from the experimental group throughout the project. Some were given verbally and some were sent by email. Several letters for homework were sent to the parents and merits were given to those students for their effort. One participant struggled with basic subtraction so the researcher modified the schedule and asked a volunteer to support her on a 1:1 basis. There was one participant who worked very hard during the project. During observations, the researcher noticed that her maths skills had improved significantly. The researcher revisited the schedule and set up challenging work for her. In the interview, she told the researcher that playing computer maths games helped to reduce her anxiety with maths and greatly improved her confidence. This might be due to the parents supporting her at home during the investigation period.

During cycle 2, one participant in the experimental group was sent out for work placement on the days she normally had the ICT sessions. So the researcher had to catch up with her whenever he had non-contact sessions. Apart from this, it was a successful cycle.

RESULTS

Table 1: Mean test scores for the experimental group (R = Correct answers)

On the means of the pre/post-tests, the experimental group scored 2.8 and 7.6 respectively using a written method (35% to 95%). By using a calculator, the mean scores were 5 and 7.8 (62.50% to 97.50%).

Table 2: Mean test scores for the control group

On the means of the pre/post-tests, the control group scored 2.5 and 2.75 respectively using a written method (31.25% to 34.38%). By using a calculator, the mean scores were 2 and 3 (25% to 37.50%).

Figure 1: Test scores for the experimental group using a written method

The line chart on Figure 1 showed that all participants in the experimental group performed better on the post-test using a written method, especially student A and E.

Figure 2: Test scores for the experimental group using a calculator

The line chart on Figure 2 showed that all participants in the experimental group performed better on the post-test using a calculator, especially student A D and E. Student B maintained a high score on both tests.

Figure 3: Test scores for the control group using a written method

The line chart on Figure 3 showed that student G and I performed slightly better on the post-test using a written method, but student F remained the same and student H slightly dropped down on the post-test.

Figure 4: Test scores for the control group using a calculator

The line chart on Figure 4 showed that student G made good improvement and student I performed slightly better using a calculator, but student F and H did not make any progress on the post-test.

Figure 5: Column chart of the means for the experimental group

The column chart on Figure 5 showed that the means of the test scores for the experimental group at pre/post stages increased from 2.8 to 7.6 using a written method and from 5 to 7.8 using a calculator.

Figure 6: Column chart of the means for the control group

The column chart on Figure 6 showed that the means of the test scores for the control group at pre/post stages increased from 2.5 to 2.75 using a written method and from 2 to 3 using a calculator.

The results on both methods showed that the experimental group achieved better outcomes than the control group who did not use the system of computer maths games.

DISCUSSION

From the pre-test using a written method shown on Table 1 for the experimental group, student B C and D did well and scored 87.50%, 37.50% and 50% with the correct answers of 7, 3 and 4 respectively.

On the post-test using a written method, all participants in the experimental group achieved good results with scores between 87.50% and 100%. Student A showed a significant improvement from 8 wrongs on the pre-test to 7 corrects on the post-test, scored 87.50%. Student E was even better showing an excellent outcome scored 100% from 8 wrongs on the pre-test to 8 corrects on the post-test. Student B managed to get all the answers correctly on the post-test. The results on the post-test using a written method showed an improvement with the experimental group.

During the tests, participants used a calculator to check the results. They did well with high scores of percentages. Student A and D showed good performance from 4 corrects to 7 and 8 corrects respectively. Especially, student E achieved excellent results from 3 corrects on the pre-test to 8 corrects on the post-test (37.50% to 100%). Student C also made good progress from 6 corrects on the pre-test to 8 corrects on the post-test and achieved a score of 100%. Student B showed good confidence in using a calculator throughout the project (100%).

From the pre-test using a written method shown on Table 2 for the control group, student F G and I had a score of 25% each whereas student H had a highest score of 50% with 4 correct answers. On the post-test, student G and I achieved good performance with 3 correct answers scored 37.50%. Student F managed to get a score of 25%. Student H dropped down from 50% to 37.50% with only 3 correct answers on the post-test.

On the pre-test using a calculator, student H gained a score of 50%. Student G struggled on the pre-test but performed better on the post-test with 3 corrects scored 37.50%. Student F managed to get 2 corrects on both tests with a score of 25%. Student H maintained a score of 50% on both tests using a calculator. Student I achieved better outcomes with 3 corrects on the post-test (37.50%).

Mean 1: Based on the literature reviews, the researcher used a similar technique to work out the means of the test scores.

The means using a written method for the control group showed that the average performance was slightly improved (10% increased). The main reasons are both G and I made good improvement from 25% on the pre-test to 37.50% on the post-test. The means using a calculator for the control group showed that the average performance was evidently improved (50% increased). The main reasons are both G and I achieved better outcomes on the post-test (37.50%).

The means using a written method for the experimental group showed that the average performance was significantly improved (171% increased). The main reasons are both A and E made significant improvement to 87.50% and 100% on the post-test respectively. The means using a calculator for the experimental group showed that the average performance was evidently improved (56% increased). The main reasons are student A D and E made good improvement on the post-tests.

There was evidence to prove that the experimental group achieved better outcomes than the control group who did not use digital maths games in their studies.

Mean 2: During week 5, participants in the experimental group were given £2 each to spend at the college’s tuck shop. They were required to work out the change using both methods.

1 = Work out the change correctly 0 = Not work out the change correctly

Student A and E struggled working out the change using a written method on both practice and test papers. Student D did well on practice but struggled when doing the real test using a written method. Based on the total group score using a written method, participants performed better on the practice test than the real test, with the mean of 0.6 compared to 0.4. In using a calculator, all participants did well with 5 corrects out of 5 on both practice and test papers.

Figure 7: Column chart of the means (Tuck shop)

Other methods of surveys and interviews were carried out for implementing different views of data analysis. “Incorporating analysis from diverse sources provides the basis for greater understanding and the formulation of effective solutions to the research problem” (Stringer 2008, p.119). Staff surveys were set up for all the tutors at the college. Most of the subjects in which the tutors found easy to embed maths include cooking, music, photography, practical projects, functional skills and ICT. But some other optional subjects such as drama and circus skills it was a challenge as the tutors found it difficult to embed. Several tutors in vocational subjects pointed out that embedding maths should not be overdone otherwise it would outweigh the contents of other teaching subjects.

On the fifth week of action research, the surveys were carried out with the experimental group.

One student did not like to play maths games on the computer or play maths games in the ICT sessions. Four others agreed.

One student did not agree that playing maths games could help to reduce maths anxiety. One student did not struggle with maths anxiety. Three others agreed.

One student gave a low score of 4 points for learning maths with computer maths games. Two students gave a high score of 5 points and two others gave a top score of 6 points.

One student disagreed on question 8 and 9. The reason is that the maths games which the researcher set for him in the first cycle were too easy. However, he agreed on question 5, 6 and 7. He told the researcher in the interview that playing maths games on the computer was a good idea for learning maths.

Another student commented on question 10 that she liked playing challenging maths games as she has built up her confidence since then. Her maths skills significantly improved and her anxiety with maths seemed to reduce recently. Three others agreed that playing computer maths games was fun and they enjoyed learning maths.

During the study, the researcher carried out two stages of interviews with students. The first stage was a group interview which was carried out before starting the project. Through the initial interview, the researcher had learnt how students felt about maths, what encouraged them to learn maths and how they wanted to learn maths. Most of them liked to learn maths and ICT together in their normal ICT sessions. However, there were disadvantages in group interviews as some less able students were easily influenced by others’ views. The second stage of interviews was completed on an individual basis. Most of them liked to do it at the starter activity. They found that playing maths games was fun and encouraged them to learn maths. They liked learning it in a competitive way.

All participants agreed that this was an effective way to learn maths as it helped them remember more of what they have learnt. Playing functional maths games helped them concentrate on the tasks more and they understood that they could use it in their everyday life. Students preferred the learning schedule to be organised in advance so that they could practise it at home. All participants liked the ideas of using computer maths games to learn maths and ICT together in a fun and competitive way.

However, the work which the researcher set up only studied a small sample of the population (10%) and mainly focused on money aspects. The sessions were limited once a week for 80 minutes and only carried out over six weeks. The games from the sites were not fully designed for adults. The flash games were only available for PCs. The activities mainly relied on the sites and Internet. Two groups of participants selected were not perfectly matched in terms of specific learning abilities and levels. One participant in the experimental group did not have a computer at home. The quantitative techniques used for data analysis were too simple.

RECOMMENDATIONS

The researcher has realised that action research is “a form of self-reflective practice” (McNiff 2002, p.6) and is a continual process for the development of effective teaching and learning. “Action research is a work in progress.” (Brydon-Miller et al. 2003, p.11). Therefore, this project should not be considered as the final one to generalise the whole case of SEN students at the college. This would need to consider as an initial action research on a particular group. In the near future, the researcher will develop further research with larger sampling groups over longer period of times to provide additional evidence.

However, as this project was carried out successfully and the hypothesis was systematically proved in some ways. So the researcher is planning to adapt these strategies for ICT sessions and will use them as starter activities or competitive quizzes after session plenary. Other subject tutors at the college are recommended to adapt these strategies for group activities in order to help develop students’ numeracy skills in a competitive way. This is fun and exciting, encouraging students to focus on their tasks. Achievable quizzes are easily set up. Students are encouraged to self-assess their own work using score sheets. Scaffolding approach is adapted to help less able students. Differentiated activities are carried out to develop individual students’ skills. Peer tutoring and supportive feedback are used to build up students’ confidence. These competitive strategies could assist students’ autonomy in learning throughout their courses at the college.

Truong Dinh, BSc QTLS
ICT Tutor - Specialist College

















Monday, September 9, 2019

ĐÊM MÙA THU

Đêm mùa thu gió ru em ngủ
Lời buồn từ muôn hướng xa xăm
Ta từ phương trời vô tận đến
Cầm quạt trên tay dỗ giấc nàn

Đêm mùa tru trăng soi đầu cửa
Ta như chú Cuội bên gốc đa
Nhìn mãi đôi mắt em nhắm kín
Mà trong lòng nhiều nỗi xót xa

Em ơi, mùa thu lá vàng rơi
Đỏ úa sân bên thiếu vắng người
Ta lạc loài tận cùng dĩ vãng
Cõi tình vì thương yêu lệ rơi

Đêm mùa thu mưa khóc ngập trời
Giọng rền vang vang động cõi đời
Vì em cũng xin tìm đến nhé
Ủi an những lời gọi... Em ơi...

Nguyễn Chí Hiệp
09.9.2019

Thursday, August 22, 2019

Paris Mùa Lạnh

Sương xuống mờ chiều nay trên đường nhỏ
Người lạ xa từng sợi tóc vàng bay
Tôi lang thang dọc bến đò không khách
Nỗi nhớ nhà chợt về sát bờ vai

Tháng năm dài, cuối mùa còn trăn trở
Bầu trời xanh lại trải thảm ưu sầu
Ngọn gió chiều sao mà hiu hắt lạnh
Phải chăng đời đang rũ bóng mưa ngâu

Đã bao năm tuyết giăng đầy nhánh mộng
Đời tha phương như biển sóng nhớ bờ
Cuộc tình trao ngỡ chừng xa lạ quá
Bởi quanh tôi chỉ còn lại ơ thờ

Gió nghiêng bay làm chiều thêm cay buốt
Vạt nắng tàn để đêm đến lao đao
Mưa có rơi xin hãy vào dòng chảy
Tìm trôi về thuở ký ức hôm nào

Đời tiếc nuối trên bến chờ khóc lỡ
Dĩ vãng xưa có thương cảm tháng ngày
Cơn sóng muộn giữa khung trời nhẹ vỡ
Tiễn chiều buồn cho bớt lạnh đìu hiu

Hỡi lệ nhòa có tìm về biển nhạt
Để tình đời thao thức gọi chơi vơi
Bàn chân nhỏ về đâu trên phố lạc
Trái tim yêu cũng lạc lối cuộc tình

Trường Đinh
UK, sương mù già 2019



Sunday, August 11, 2019

BIỂN SẦU THU

Thuyền anh ra nơi xa tìm em
Phương trời khuất nẻo sông êm đềm
Màn khói sương âm u mờ tối
Nghe nỗi buồn len lén trong tim

Thuyền anh trôi mãi giữa ngàn khơi
Gió mưa lạnh lẽo một cuộc đời
Giờ em nơi đâu nào có biết
Giọt lệ sầu duyên kiếp chơi vơi

Em ơi, giờ em ở nơi đâu
Tìm nhau anh bơi tận giang đầu
Mùa thu đắm chìm trong gió bấc
Nghe lạc loài trong cõi mộng nào

Thuyền anh nương theo bóng ngàn sao
Đêm nay tinh tú bắc ô cầu
Như Ngưu Lang đi tìm Chức Nữ
Mỗi năm một lần chuyện bể dâu...

Nguyễn Chí Hiệp
10.8.2019

Wednesday, August 7, 2019

NGỦ ĐI EM

Ngủ đi em đời đã vắng ngày
Anh gửi tiếng thu gọi bên này
Tình xa quá em ơi, tình nhớ
Đau đớn con tim như héo gầy

Ngủ đi em mơ ước vòng tay
Cũng như anh trong đêm mưa bay
Mộng phù du đêm dài thao thức
Bởi vì nỗi lòng mình nhớ ai

Nhắm mắt đôi ta ru hồn ngủ
Vô thường một tối bớt cô đơn
Vai em ấm quá anh thì lạnh
Lạc loài trong cõi sống muộn phiền

Ngủ đi em mơ xứ thần tiên
Có lá hoa bên đường chao nghiêng
Gió mênh mang thổi từ ngày mới
Cùng với em hạnh phúc vẹn nguyên...

Nguyễn Chí Hiệp
07.9.2019

ĐÊM NHỚ NGƯỜI

xuôi ngược

Em nhớ anh tìm theo mộng ảo
Mãi buồn trông phố cảnh thưa người
Hoen mờ bóng sáng đèn hiu hắt
Nhạt tối sông trăng nửa khuyết rơi
Êm khẽ tiếng mưa nghe nát dạ
Nhẹ hờ môi mắt thấy rung rơi
Đêm soi ánh lặng trời mù mịt
Ảo mộng theo tìm thương nhớ ơi

Nguyễn Chí Hiệp
07.9.2019

Tuesday, August 6, 2019

MIÊN KHÚC

Mùa thu lá rơi đầy
Phố buồn thiếu vắng ai
Gió bấc lạnh tê tái
Ngõ về đường vẫn dài

Mùa thu mưa u hoài
Hạt sầu rơi trên vai
Nhớ áo em bông đỏ
Đôi mắt xinh vẫn đâu đây

Vẫn thấy những tháng ngày
Người xa rời vòng tay
Đời này biết ai đợi
Giọt lệ đẫm hình hài

Mùa thu em ngủ say
Đón nhau giấc mộng gầy
Đâu tiếng hát ru mãi
Từ trăm năm miệt mài...

Nguyễn Chí Hiệp
06.8.2019

BUỒN GIỮA ĐÊM THU

xuôi ngược

Thu đến cảnh khuya trời tối mịt
Liễu cành e ấp để buồn ai
Mù xa gió động mây bay khuất
Lặng khẽ hồn mơ giấc ngủ say
Ru nhẹ phím đàn day dứt mãi
Gọi thầm lời hát chậm dần xoay
Lu mờ ánh sáng đèn vàng rọi
Mịt tối trời khuya cảnh vẫn đây

Nguyễn Chí Hiệp
06.8.2019

BUỒN ĐÊM MƯA PHỐ

xuôi ngược

Người vắng phố buồn mưa ướt dầm
Cửa bên em ngắm cảnh đêm rằm
Vơi đầy nỗi nhớ tình xa cách
Nhạt đắng lời thương giọng oán than
Dời đổi phố xưa hồn lặng mãi
Đón đưa nơi cũ dốc nào hoang
Ơi à giọng hát ru ngày tháng
Lơi lả gió buồn vọng tiếng ngâm

Nguyễn Chí Hiệp
06.9.2019

BUỒN ĐÊM MƯA

Đêm mưa nhớ em vô cùng
Nằm đây nghe nặng trong lòng
Tiếng nước như đang gõ nhịp
Buồn nào biền biệt mênh mông

Đêm mưa tìm nơi phương xa
Mộng ơi, xin lời thiết tha
Gửi về em để yêu dấu
Nụ hôn mượn gió đi qua

Nhắm mắt tìm theo hình bóng
Bâng khuâng tâm tư vỗ về
Từ trăm năm mình gặp gỡ
Cách biệt người lòng tái tê

Đêm mưa giọt nước ủ ê
Đọng bên thềm chảy bên lề
Mang theo những lời tâm sự
Của một người ở xa quê...

Nguyễn Chí Hiệp
07.9.2019

MƯA ĐÊM

xuôi ngược

Đêm mưa cảnh vắng khuya buồn vọng
Thức mãi anh chờ đế nhớ em
Thuyền đậu bến xưa nơi phố chợ
Phố xa mơ thoảng hương trà sen
Thềm sau nước chảy rong về cội
Ngõ cuối trăng tàn nghiêng khuyết bên
Êm khẽ giấc sầu nghe dại mắt
Vọng buồn khuya vắng cảnh mưa đêm

Nguyễn Chí Hiệp
07.9.2019

Sunday, August 4, 2019

SỚM THU

Một sớm mùa thu vàng bên cửa
Êm đềm giấc ngủ vẫn còn đây
Em sẽ thấy gì trong mộng ảo
Thấp thoáng ngàn hoa cơn mơ này

Một sớm mây mù che lối trước
Gió heo may đưa bước chân người
Thôi lặng yên hàng cây đầu ngõ
Xôn xao nghiêng ngả trên vai đời

Ai đến bên em để mơ ước
Ai đứng bên em lời nguyện cầu
Tình như những gì đã tìm thấy
Nét đẹp tâm hồn đã trao nhau

Một sớm nghe lòng vấy nỗi đau
Em ơi, ta chờ phố xa nào
Mượn giấc mơ để tìm kiếm mãi
Dáng người ở xa tận phương nào

Nguyễn Chí Hiệp
05.8.2019

NẶNG TÌNH

Trời đã sáng chưa em phía ấy
Nơi này bóng tối đã âm u
Đêm nay tôi ngủ trong miền nhớ
Môi mắt nào trong giấc mộng chờ

Nhắm mắt tưởng là qua bên đó
Ngồi trước sân ngắm cảnh bình minh
Ngắm hoa nở rộ trong vườn sớm
Sương rũ rơi rơi ướt vai mình

Trời mở cửa để em thức dậy
Song cửa buồn ru gió heo may
Mùa thu gửi đến màu lá úa
Những chiếc lá phong thả phố gầy

Trời tối ảm vẫn ngồi đây nhớ
Áo hoa em mặc trước hôm qua
Ẩn nhẹ trong lòng lưu luyến mãi
Người ơi, tình đã nặng lòng ta...

Nguyễn Chí Hiệp
04.8.2019

THU NHỚ

Hồ nước trong xanh ai đứng đó
Áo đỏ xinh xinh thấy dáng quen
Em ơi tôi đến từ ảo ảnh
Gửi lại ân tình để nhớ thương

Vùng trắng trong mơ xa vạn dặm
Anh biết tìm em ở nơi đâu
Nhắm mắt thấy trời cao biển rộng
Lặng lẽ trong tim một nỗi sầu

Giữ lại nét môi cười em nhé
Tối này anh sẽ đón trong mơ
Vòng tay ôm lấy người tri kỷ
Nghe lòng mình thôi bớt bơ vơ

Hồ nước xa xa em ở đấy
Tôi vừa thấy được bước chân em
Gót bồng giẫm nhẹ trên ngàn lá
Thu về ta lại nhớ thâu đêm

Nguyễn Chí Hiệp
04.8.2019

NGỦ ĐI EM

Ngủ đi em sẽ qua một đêm
Lời buồn ru mãi không còn quên
Hát cho đời qua ngày tháng lạ
Nhắm mắt thả hồn đi khắp miền

Ngủ đi em qua thời gian tới
Gió thu đưa bình minh trở về
Đêm ngắn lại và hoa thức giấc
Tìm theo mộng mị khối tình si

Em ơi, đêm nay trời có mưa
Chờ nhau chờ mãi đến bây giờ
Nơi đây bóng tối đã phủ kín
Ánh trăng chìm khuất ở trong mơ

Ngủ đi em qua hết đêm nay
Lời hát anh ru vẫn miệt mài
Gửi khúc nhạc buồn trong nỗi nhớ
Mà nghe tâm hồn mình thương ai

Nguyễn Chí Hiệp
04.8.2019

Tuesday, July 30, 2019

ĐÊM MƯA

Đêm mưa đời ru em giấc ngủ
Mênh mang gió thổi từ ngàn sau
Yên khẽ tiếng thùy dương gọi sóng
Mơ hồ thuyền lạc mãi nơi đâu

Em ơi, nếu đường đời gần lại
Thì anh sẽ cùng em xum vầy
Say đắm với nàng hoa yêu dấu
Từ trăm năm ta đón chờ nhau

Đêm mưa mê mãi giấc ngủ lâu
Lá vàng rơi mùa thu nơi nào
Êm ái trong lòng em tâm sự
Gửi về trong biển nhớ cồn cào

Đêm mưa hạt trắng nghe rì rào
Thức dậy nỗi lòng buồn làm sao
Ngày qua đi có dài vô tận
Vẫn ước mơ đời tìm thấy nhau...

Nguyễn Chí Hiệp
29.7.20q9

Sunday, July 28, 2019

ĐIỀU GÌ XẢY RA Ở VIỆT NAM SAU 2020? "Mặc dù chủ trương không hoạt động chính trị nhưng vẫn mời các bạn đọc để xót xa cho một nước Việt Nam đang trên đà diệt chủng"

Hong Van Nguyen

** VIET NAM một dân tộc sống hôm nay chỉ biết hôm nay, mặc kệ tương lai đã trở thành một lối sống hiển nhiên.Trong khi Hong Kong phải đến năm 2047 tức 27 năm nữa mới trở thành một khu cai trị của Trung Quốc thì Việt Nam không cần đợi lâu đến thế, chỉ còn vài tháng nữa thôi nếu bấm đồng hồ đếm ngược thì mọi chuyện đã sẵn sàng.


Có lẻ nhiều người Việt Nam vẫn còn mơ hồ cho rằng Hiệp ước Thành Đô là cái gì đó xa xôi, là chuyện bịa đặt do bọn phản động vẽ ra. Thế nhưng trên thực tế một Việt Nam giống như Choang Quảng Tây, Hồi Ninh Hạ, Tân Cương, Nội Mông Cổ, Tây Tạng... đã thành sự thật.

Nếu như Đài Loan kiên quyết và bất khuất không chấp nhận tiến trình này. Và quốc hội Mỹ đang trong thời gian chấp nhận gói khí tài quân sự mà Bộ Quốc Phòng muốn bán cho Đài Loan gồm xe tăng, tên lửa phòng không Stinger, các thiết bị liên quan lên đến 2,2 tỷ USD để giữ nước; Hong Kong đang muốn cái ngày vào năm 2047 không hề tới thì con dân nước Việt vẫn ung dung đi nhậu, tán dóc trên mạng xem như không hề có chuyện gì xảy ra.

Phải nói là nhận thức về thảm họa của dân Việt kém xa Đài Loan và Hong Kong dù họ có 8 năm sống dưới thể chế chính trị dân chủ. Trong khi dân Đài Loan, Hồng Kong đánh hơi được mùi nô lệ khi nó còn ở rất xa thì dân Việt Nam hoàn toàn chẳng hay biết. Một số người biết thì nói cũng không ai nghe. Đó cũng bởi một dân tộc sống hôm nay chỉ biết hôm nay, mặc kệ tương lai đã trở thành một lối sống hiển nhiên.
Không cần nói đâu xa chỉ mỗi một việc xây xa lộ Bắc Nam cũng chứng tỏ kế hoạch "một vành đai một con đường" của Tập đã thành hiện thực. Sau đó là 15 văn kiện đã ký kết giữa 2 đảng, việc xâm nhập tiếng Trung Quốc vào trường học, nhân dân tệ được phát hành, chính sách hai quốc gia một cửa khẩu, chính sách du lịch 0 đồng, việc bán ba đặc khu, việc nhà máy ,khu công nghiệp, tô giới, đô thị Trung Quốc mọc đầy, việc BCT và tướng lĩnh Việt Nam thường xuyên sang chầu nhận lệnh...
Đó là gì nếu không phải là dấu hiệu của một khu tự trị ?
Như vậy sau năm 2020, bộ máy thái thú vẫn cai trị để lừa dân là chưa mất nước. Tuy nhiên hệ thống đường sá xa lộ, đường sắt sẽ hòa vào hệ thống đường sá Trung Quốc, biên giới, lãnh hải trên biển sẽ không còn tồn tại, các căn cứ quân sự Trung Quốc xây trên các đảo Hoàng Trường Sa, đảo nhân tạo cũng sẽ là của Việt Nam.
Khách du lịch hoặc dân Trung Quốc muốn đến bất kỳ địa điểm du lịch nào của Việt Nam cũng không cần sử dụng hộ chiếu và chỉ cần trả bằng nhân dân tệ đòng thời chỉ có công an Trung Quốc mới có thể bắt giam họ và chỉ tòa án của Tập mới có thể xử họ. Dân Trung Quốc, người Hán được xem như công dân loại một, các sắc dân khác chỉ là nô lệ cho người Hán.
Hệ thống ngân hàng Trung Quốc sẽ thôn tính toàn bộ hệ thống ngân hàng Việt Nam, công nghiệp Trung Quốc sẽ xem thị trường Việt Nam là nơi để khai thác tài nguyên, đổ rác thải công nghiệp. Nông nghiệp và thương nghiệp Trung Quốc sẽ xem Việt Nam là nơi tiêu thụ các hàng hóa độc hại mang tính diệt chủng.. Ngành y tế Trung Quốc sẽ xem Việt Nam là ngân hàng máu và là nguồn cung cấp nội tạng bất tận.Bất cứ bệnh nhân nào có nhóm máu và điều kiện thích hợp với các khách hàng phía Trung Quốc thì sẽ được cho chết một cách hợp lý vì "bác sĩ đã tận tình nhưng không qua khỏi" nhằm lấy lá gan, thận, trái tim hay võng mạc của bệnh nhân vừa qua đời, còn tươi nguyên....
Và rất nhiều chính sách diệt chủng của nước mẹ sẽ giành cho nước Việt khi "luật là tao, tao là luật". Nhưng có lẻ mức tinh vi của quan thầy Trung Quốc đủ để cho mấy thằng "stupid", DLV, lực lượng 47 tin rằng nước vẫn chưa mất, vẫn còn độc lập và đang ở trong tay cụ Tổng hay mụ Ngân...
Kỳ thực đó chỉ là những hình nộm bị giật dây mà thôi.
( nhận qua email )