Thursday, December 12, 2019

Hội thảo: ‘Nhạc Vàng’, di sản trường tồn của Việt Nam Cộng hòa

Graphic - Nhac Vang


Nhạc Vàng mà sự thịnh hành của nó gắn liền với miền Nam Việt Nam trước 1975 giúp cho khán thính giả ngày nay sống lại thời Việt Nam Cộng hòa và có thể được xem là di sản có sức sống nhất của chế độ đã qua, các nhà nghiên cứu nhận định tại một hội thảo mới đây ở tiểu bang Oregon, Hoa Kỳ.
Nhạc Vàng là tên thường gọi của thể loại nhạc được sáng tác và trình diễn dưới thời Việt Nam Cộng hòa. Ngoài tên gọi này, một phần của nó còn được gọi là ‘nhạc sến’ hay ‘nhạc boléro’, dựa trên thể điệu và lời ca.
U sầu, hoài niệm
“Nhạc Vàng là một trong những phương tiện giữ cho ký ức của nền Cộng hòa sống mãi,” ông Vinh Phạm, nghiên cứu sinh Tiến sỹ về Văn học đối chiếu tại Đại học Cornell, nhận định tại hội thảo về nền Cộng hòa và các giá trị Cộng hòa Việt Nam tại Đại học Oregon, Eugene, hôm 15/10.
Điều này thấy rõ trong các chương trình ca nhạc và nhạc hội được tổ chức ở hải ngoại để người gốc Việt tôn vinh nền văn hóa của họ vốn thường trình diễn những bài hát có nội dung về Việt Nam Cộng hòa, ông nói.
Ông Vinh đưa ra dẫn chứng là có giai thoại về ‘ba thứ không thể thiếu’ trong các gia đình người Việt ở Mỹ, trong đó có những đĩa nhạc của Paris by Night hay Asia, hai nhà sản xuất băng đĩa hàng đầu của người Việt ở hải ngoại, bên cạnh... chai nước mắm và tô phở.
“Những bài hát như thế này thường được xem là để gợi nhớ về thời kỳ trước năm 1975,” ông nói.
Ông Vinh cho biết thể loại nhạc này thường bị các nhà phê bình ngày nay đóng khung là ‘âu sầu, áo não’ (melancholy).
Theo ông Vinh, sự u sầu này có nghĩa là ‘mất đi một thứ gì đó’ và ‘ít nhất trong phạm vi văn học và âm nhạc sự mất mát đó chính là mất mát thật sự nền Việt Nam Cộng hòa’.
“Nói cách khác, vật bị mất (gây ra cảm giác u sầu) ở đây không nằm trong phạm vi vô thức mà trái lại được đóng khung và định danh rõ ràng là một đất nước.”
Ông dẫn chứng là trong các chương trình ca nhạc của người Việt ở Mỹ, ngày 30/4 năm 1975 được gọi là ‘Ngày Mất nước’. Sau khi Việt Nam Cộng hòa sụp đổ và những công dân của quốc gia này sống lưu vong thì âm nhạc của chế độ cũ giúp họ nhận thức rõ về sự mất mát này, ông nói.
Trong khi đó, cách mô tả Nhạc Vàng là ‘hoài niệm’ (nostalgic) về thời xa xưa có ý nghĩa là ‘chấp nhận quá khứ là chuyện đã qua và chấp nhận thực tại’, ông nói.
“Với những gì mà cộng đồng người Việt ở hải ngoại, vốn tích cực tham gia chính trị, đã phản đối (chính quyền trong nước) lâu nay và cái cách mà Nhạc Vàng được sử dụng để củng cố tinh thần quốc gia của họ thì không thể nói là có bất cứ dấu hiệu gì cho thấy họ chấp nhận quá khứ mà thay vào đó đó là sự phản đối Đảng Cộng sản,” ông nhận định.
“Cách dùng những từ như hoài niệm, u sầu lâu nay để phê bình Nhạc Vàng đã bỏ qua mục đích thật sự của những bài nhạc này,” ông nói.
Sau khi đất nước thống nhất, chính quyền trong nước có một thời kỳ cấm đoán gắt gao thể loại âm nhạc này vì cho rằng nó ‘quá diễm tình, yếu đuối và thể hiện nền văn hóa yếu ớt của miền Nam’. Thậm chí nó còn được miêu tả là ‘độc hại và phản động’.
Có hợp với giới trẻ?
Trao đổi với VOA bên lề buổi hội thảo về lý do tại sao Nhạc Vàng có sự trở lại ngoạn mục ở trong nước hiện nay, ông Vinh nêu lên các lý do là ‘làm ra tiền’, ‘dễ tiếp cận hơn trước’, ‘dễ nhớ dễ thuộc’ và ‘kết nối với thế hệ đi trước’.
“Anh có thể kiếm tiền bằng Nhạc Vàng dựa trên số lượt người xem hay nghe trên YouTube. Một số kênh về Nhạc Vàng trên YouTube có hàng triệu lượt xem mỗi mục đăng tải,” ông giải thích.
“Một lý do nữa là khán giả Việt Nam hiện nay có nhiều cách tiếp cận các sản phẩm văn hóa hơn. Vào những năm 1990, các băng đĩa Nhạc Vàng mà họ có được hoặc là sao chép lậu hoặc do người thân của họ mang từ nước ngoài về,” ông nói thêm. “Giờ đây mọi người chỉ cần rút điện thoại thông minh từ trong túi ra là có thể nghe Nhạc Vàng.”
“Mặc dù một số bài hát vẫn bị cấm nhưng khán giả có thể dễ dàng tiếp cận được.”
Ngoài ra, tính chất lãng mạn (poetic) của thể loại nhạc này khiến khán giả dễ dàng ghi nhớ và thuộc bài hát.
“Có những thanh niên có ông bà cha mẹ vẫn còn nghe Nhạc Vàng cho nên nó là một hình thức để họ kết nối với thế hệ đi trước,” ông Vinh nói thêm.
Trả lời câu hỏi liệu Nhạc Vàng có phù hợp với thị hiếu của các khán giả trẻ ở trong nước hiện nay, ông Vinh nói rằng giới trẻ ‘quan tâm đến nhiều thể loại âm nhạc khác nhau chứ họ không quan tâm đến duy nhất một thứ’ cho nên ‘không thể gom các khán giả trẻ thành một khối duy nhất’.
Tuy nhiên, theo những gì ông quan sát, ông cho rằng giới trẻ trong nước hiện nay hướng đến âm nhạc Hàn Quốc, Trung Quốc và nhạc Mỹ, trong đó nhạc Hàn rất được giới trẻ ưa chuộng.
Về vấn đề liệu sự hồi sinh của Nhạc Vàng có làm sống lại sự quan tâm và tìm hiểu về Việt Nam Cộng hòa và các giá trị của nó hay không, ông Vinh trả lời rằng ‘mặc dù những bài Nhạc Vàng có thể gợi lại những tình cảm thân thiết với Việt Nam Cộng hòa nhưng ở trong nước chúng đã được đưa ra khỏi bối cảnh ban đầu’.
“Những người hát Nhạc Vàng vì họ yêu giai điệu bài hát (không phải lời hát). Tôi không cho rằng có sự gắn bó cá nhân rõ ràng (với nội dung các bài hát),” ông nói thêm. “Một số bài hát cơ quan kiểm duyệt còn sửa một số chữ trong lời hát.”
Ông cho rằng các khán giả ở Việt Nam khi hát Nhạc Vàng họ ‘ít quan tâm đến chính trị’ và Nhạc Vàng chỉ đơn thuần là ‘một mặt hàng mới’ phục vụ người tiêu dùng.
Chính vì những lý do đó mà ông cho rằng Nhạc Vàng hiện nay ‘không còn là mối đe dọa chính trị’ đối với chính quyền trong nước.
Ông đưa ra dẫn chứng là có hiện tượng ‘trong nước trình diễn lại màn trình diễn ở nước ngoài’ (performing the performance), tức là tái hiện lại y chang khung cảnh sân khấu của các bài hát dàn dựng ở hải ngoại mặc dù họ đang ở Việt Nam trong khi những bài hát này vì không tiếp cận được bối cảnh ở Việt Nam nên phải dựng cảnh giả.
Cách làm đó đã cho thấy khán giả trong nước ‘phi chính trị hóa Nhạc Vàng’ – tức họ là trình diễn âm nhạc chứ ‘không truyền tải thông điệp chính trị’, ông Vinh phân tích.
Di sản có sức sống nhất?

Trong phần trình bày của mình, ông Jason Gibbs, một nhà nghiên cứu về âm nhạc Việt Nam và hiện đang làm việc cho Thư viện Công tại San Francisco, cho rằng ‘có lẽ di sản về Việt Nam Cộng hòa có sức sống nhất ở Việt Nam ngày nay là âm nhạc’.
“Những bài hát vẫn còn sống mãi từ thời điểm đó tập trung vào tình cảm con người và những cảm xúc sâu thẳm trong lòng người,” ông nói.
Theo ông Gibbs thì sở dĩ âm nhạc phát triển mạnh mẽ ở miền Nam Việt Nam vì ‘có thị trường’ cho sản phẩm âm nhạc mang tính thương mại mà nhờ vào đó các nhạc sỹ có rất nhiều cơ hội kiếm tiền từ các sáng tác của họ và có được mức sống cao.
“Trong một thị trường sơ khai còn hỗn loạn, những nhà sáng tác và khán giả tìm kiếm âm nhạc mới mẻ giàu cảm xúc và phù hợp với giá trị chung của một bộ phận đáng kể dân chúng,” ông nói và cho rằng thị trường âm nhạc miền Nam lúc đó ‘hoàn toàn bản địa’ vì ‘không có hãng đĩa nước ngoài nào tranh thủ được thị trường’.
Ông giải thích rằng nhạc thị trường là một ‘điều mới mẻ’ ở miền Nam Việt Nam lúc đó vì nó không tồn tại dưới thời thuộc địa và ở miền Bắc.
“Âm nhạc của Việt Nam Cộng hòa hoạt động trong mối quan hệ của ba yếu tố: chính sách của chính quyền, động cơ lợi nhuận và tình cảm chung của người dân,” ông cho biết.
Ông nói thêm chính quyền Việt Nam Cộng hòa lúc đó do muốn tách bạch khỏi hệ tư tưởng và cách cai trị ở miền Bắc nên không thể ra lệnh cho các văn nghệ sỹ và người dân tuyệt đối tuân theo lệnh của chính quyền.
Tuy nhiên, ‘tâm lý chiến cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc định hình công việc sáng tạo của các nhạc sỹ và có ảnh hưởng lên các tác phẩm âm nhạc được đưa ra thị trường’. Mặc dù vậy, khi nhạc thương mại chiếm lĩnh thị trường, trên sóng phát thanh và sóng truyền hình thì ảnh hưởng của chính quyền trở nên bị giới hạn.
Sau năm 1975, Nhạc Vàng mặc dù bị cấm đoán quyết liệt ở miền Bắc nhưng nó vẫn được cộng đồng người Việt ở hải ngoại gìn giữ và ngày nay đã được một bộ phận dân chúng miền Bắc, vốn trước giờ lạ lẫm với dòng nhạc này, chấp nhận, ông Gibbs cho biết.
Trả lời câu hỏi của VOA rằng dòng nhạc tâm lý chiến có giống như nhạc tuyên truyền cổ động chiến đấu ở miền Bắc hay không, ông Gibbs nói: “Tôi phải thừa nhận rằng với những gì mà tôi đã nghe thì (nhạc miền Nam) cũng có yếu tố tuyên truyền”.
“Ý tưởng tuyên truyền là nhấn mạnh vào hành động xấu xa của đối phương,” ông nói.
Cũng theo nhận định của ông, Nhạc Vàng ‘chắc chắn mang tính cổ động quân đội’ vì nó ‘bày tỏ sự cảm thông cho người lính, cho những người dân bị chiến tranh chia cắt’.
“Một số bài hát còn hướng đến thu phục những người bên ngoài chế độ (sống ở miền Bắc),” ông nói và cho biết những bài hát này nằm trong chương trình chiêu hồi (open arms) của chính quyền và có thể đi sâu vào phía đối phương.
“Tuy nhiên, họ biết rằng họ không thể sáng tác những bài hát mang tính chất quân sự mạnh mẽ bởi vì những bài hát như thế không có sức hút (đối với thị trường),” ông nói thêm.

Monday, December 2, 2019

Kinh Bốn Lãnh Vực Quán Niệm

Trường Dinh, chuyển dịch sang Việt ngữ với sơ đồ tóm lược.

Tôi nghe như vầy. Một thuở nọ, Đức Phật đang cư trú ở Kammasadamma, một khu phố của xứ Kuru. Một hôm, Ngài gọi các vị Tỳ Kheo và nói rằng: Này các vị, đây là con đường duy nhất để thanh tịnh thân tâm, vượt thắng phiền não, diệt trừ ưu khổ, đạt tới chánh đạo và chứng nhập Niết Bàn. Đó là con đường của bốn lãnh vực quán niệm.

Bốn lãnh vực quán niệm là những lãnh vực gì?

Người Tỳ Kheo quán niệm về thân thể nơi thân thể, tinh cần, ý thức rõ ràng và sáng suốt về thân thể, xa lìa mọi tham đắm và ưu tư đối với cuộc đời.

Người ấy quán niệm về cảm thọ nơi cảm thọ, tinh cần, ý thức rõ ràng và sáng suốt về cảm thọ, xa lìa mọi tham đắm và ưu tư đối với cuộc đời.

Người ấy quán niệm về tâm thức nơi tâm thức, tinh cần, ý thức rõ ràng và sáng suốt về tâm thức, xa lìa mọi tham đắm và ưu tư đối với cuộc đời.

Người ấy quán niệm về đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức, tinh cần, ý thức rõ ràng và sáng suốt về đối tượng tâm thức, xa lìa mọi tham đắm và ưu tư đối với cuộc đời.

Người Tỳ Kheo quán niệm về thân thể nơi thân thể như thế nào?

Người ấy tìm đến một khu rừng, hoặc một gốc cây, hoặc một nơi vắng vẻ, ngồi xếp bằng, lưng giữ thẳng và thiết lập ý thức chánh niệm trên đối tượng thiền định. Với ý thức rõ ràng và sáng suốt, người ấy thở vào. Với ý thức rõ ràng và sáng suốt, người ấy thở ra.

Thở vào một hơi thở dài, người ấy ý thức là đang thở vào một hơi thở dài. Thở ra một hơi thở dài, người ấy ý thức là đang thở ra một hơi thở dài.

Thở vào một hơi thở ngắn, người ấy ý thức là đang thở vào một hơi thở ngắn. Thở ra một hơi thở ngắn, người ấy ý thức là đang thở ra một hơi thở ngắn.

Người Tỳ Kheo tự mình thực tập như sau:

Với sự chú tâm và ghi nhận rõ ràng về toàn hơi thở vào, người ấy thở vào. Với sự chú tâm và ghi nhận rõ ràng về toàn hơi thở ra, người ấy thở ra.

Với sự nỗ lực chú tâm về sự lắng dịu của toàn hơi thở vào, người ấy thở vào. Với sự nỗ lực chú tâm về sự lắng dịu của toàn hơi thở ra, người ấy thở ra.

Như người thợ tiện rành nghề, hoặc người thợ học nghề, khi xoay một vòng dài, người ấy ý thức là đang xoay một vòng dài. Hoặc xoay một vòng ngắn, người ấy ý thức là đang xoay một vòng ngắn.

Cũng như người Tỳ Kheo thở vào một hơi thở dài, người ấy ý thức là đang thở vào một hơi thở dài. Thở ra một hơi thở dài, người ấy ý thức là đang thở ra một hơi thở dài. Thở vào một hơi thở ngắn, người ấy ý thức là đang thở vào một hơi thở ngắn. Thở ra một hơi thở ngắn, người ấy ý thức là đang thở ra một hơi thở ngắn.

Người Tỳ Kheo tự mình thực tập như sau:

Với sự chú tâm và ghi nhận rõ ràng về toàn hơi thở vào, người ấy thở vào. Với sự chú tâm và ghi nhận rõ ràng về toàn hơi thở ra, người ấy thở ra.

Với sự nỗ lực chú tâm về sự lắng dịu của toàn hơi thở vào, người ấy thở vào. Với sự nỗ lực chú tâm về sự lắng dịu của toàn hơi thở ra, người ấy thở ra.

Như thế, người Tỳ Kheo an trú trong sự quán niệm về thân thể nơi thân thể, hoặc bên trong thân thể, hoặc bên ngoài thân thể, hoặc bên trong và bên ngoài thân thể. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi nơi thân thể, hoặc quá trình hoại diệt nơi thân thể, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hoại diệt nơi thân thể. Hoặc người ấy quán niệm: “Có thân thể đây”, để phát khởi ý thức chánh niệm về thân thể. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm và cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người Tỳ Kheo quán niệm về thân thể nơi thân thể là như vậy.

Khi đi, người Tỳ Kheo ý thức là đang đi. Khi đứng, người Tỳ Kheo ý thức là đang đứng. Khi ngồi, người Tỳ Kheo ý thức là đang ngồi. Khi nằm, người Tỳ Kheo ý thức là đang nằm. Bất cứ thân thể đang ở trong tư thế nào, người Tỳ Kheo cũng đều ý thức về tư thế đó của thân thể.

Như thế, người Tỳ Kheo an trú trong sự quán niệm về thân thể nơi thân thể, hoặc bên trong thân thể, hoặc bên ngoài thân thể, hoặc bên trong và bên ngoài thân thể. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi nơi thân thể, hoặc quá trình hoại diệt nơi thân thể, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hoại diệt nơi thân thể. Hoặc người ấy quán niệm: “Có thân thể đây”, để phát khởi ý thức chánh niệm về thân thể. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm và cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người Tỳ Kheo quán niệm về thân thể nơi thân thể là như vậy.

Khi đi tới hay đi lui, người Tỳ Kheo ý thức rõ ràng về việc đó. Khi nhìn trước hay nhìn sau, cúi xuống hay đứng lên, người Tỳ Kheo ý thức rõ ràng về việc đó. Khi mặc áo cà sa hay mang bình bát, người Tỳ Kheo ý thức rõ ràng về việc đó. Khi ăn hay uống, nhai hay nếm, người Tỳ Kheo ý thức rõ ràng về việc đó. Khi đi đại tiện hay tiểu tiện, người Tỳ Kheo ý thức rõ ràng về việc đó. Khi đi hay đứng, nằm hay ngồi, ngủ hay thức, nói hay im lặng, người Tỳ Kheo cũng đều ý thức rõ ràng về việc đó.

Như thế, người Tỳ Kheo an trú trong sự quán niệm về thân thể nơi thân thể, hoặc bên trong thân thể, hoặc bên ngoài thân thể, hoặc bên trong và bên ngoài thân thể. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi nơi thân thể, hoặc quá trình hoại diệt nơi thân thể, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hoại diệt nơi thân thể. Hoặc người ấy quán niệm: “Có thân thể đây”, để phát khởi ý thức chánh niệm về thân thể. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm và cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người Tỳ Kheo quán niệm về thân thể nơi thân thể là như vậy.

Người Tỳ Kheo quán niệm về chính thân thể đây, từ gót chân trở lên và từ đỉnh đầu trở xuống, bao bọc bởi một lớp da và chứa đầy các loại bất tịnh. Thuộc về thân thể này: tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mạc, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bao tử, phẩn, óc, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, chất dầu, nước mắt, nước miếng, nước mũi, nước nhờn ở khớp xương, nước tiểu.

Này các vị, thí dụ có một cái bao đựng các loại hạt như gạo trắng, gạo đỏ, đậu xanh, đậu ngự, mè, lúa. Hai đầu bao có thể mở ra được. Một người có mắt tốt khi mở bao ra, thấy rõ các loại hạt chứa đựng trong đó. Đây là gạo trắng, gạo đỏ, đậu xanh, đậu ngự, mè, lúa.

Cũng như thế, khi quán niệm về chính thân thể đây, người Tỳ Kheo thấy được mọi thứ, từ gót chân trở lên và từ đỉnh đầu trở xuống, bao bọc bởi một lớp da và chứa đầy các loại bất tịnh. Thuộc về thân thể này: tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mạc, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bao tử, phẩn, óc, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, chất dầu, nước mắt, nước miếng, nước mũi, nước nhờn ở khớp xương, nước tiểu.

Như thế, người Tỳ Kheo an trú trong sự quán niệm về thân thể nơi thân thể, hoặc bên trong thân thể, hoặc bên ngoài thân thể, hoặc bên trong và bên ngoài thân thể. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi nơi thân thể, hoặc quá trình hoại diệt nơi thân thể, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hoại diệt nơi thân thể. Hoặc người ấy quán niệm: “Có thân thể đây”, để phát khởi ý thức chánh niệm về thân thể. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm và cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người Tỳ Kheo quán niệm về thân thể nơi thân thể là như vậy.

Lại nữa, trong bất cứ tư thế nào của thân thể, người Tỳ Kheo cũng quán niệm về các yếu tố cấu tạo thành thân thể. Trong thân thể đây, có yếu tố đất, có yếu tố nước, có yếu tố lửa, có yếu tố gió.

Như người đồ tể rành nghề, hoặc người thợ học nghề, khi giết một con bò, ngồi giữa ngã tư đường và cắt con bò ra thành nhiều phần. Người Tỳ Kheo cũng vậy, trong bất cứ tư thế nào của thân thể, người ấy cũng quán niệm về các yếu tố cấu tạo thành thân thể. Trong thân thể đây, có yếu tố đất, có yếu tố nước, có yếu tố lửa, có yếu tố gió.

Như thế, người Tỳ Kheo an trú trong sự quán niệm về thân thể nơi thân thể, hoặc bên trong thân thể, hoặc bên ngoài thân thể, hoặc bên trong và bên ngoài thân thể. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi nơi thân thể, hoặc quá trình hoại diệt nơi thân thể, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hoại diệt nơi thân thể. Hoặc người ấy quán niệm: “Có thân thể đây”, để phát khởi ý thức chánh niệm về thân thể. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm và cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người Tỳ Kheo quán niệm về thân thể nơi thân thể là như vậy.

Lại nữa, này các vị. Như thấy một xác chết bị bỏ nơi bãi tha ma, đã được một ngày, hai ngày, hoặc ba ngày, sình trương, thâm tím và thối rữa. Người Tỳ Kheo quán niệm về thân thể đây cũng vậy, cũng sẽ trở thành như thế, không có cách nào tránh thoát.

Rồi như thấy một xác chết bị bỏ nơi bãi tha ma, bị quạ, diều hâu, kên kên, chó sói rừng gặm xé, dòi bọ rúc rỉa. Người Tỳ Kheo quán niệm về thân thể đây cũng vậy, cũng sẽ trở thành như thế, không có cách nào tránh thoát.

Rồi như thấy một xác chết bị bỏ nơi bãi tha ma, chỉ còn lại bộ xương dính ít thịt và máu, các khớp xương còn gắn liền nhau bởi những sợi gân. Người Tỳ Kheo quán niệm về thân thể đây cũng vậy, cũng sẽ trở thành như thế, không có cách nào tránh thoát.

Rồi như thấy một xác chết bị bỏ nơi bãi tha ma, chỉ còn lại bộ xương không còn chút thịt nào nhưng vẫn còn dính chút máu, các khớp xương còn gắn liền nhau bởi những sợi gân. Người Tỳ Kheo quán niệm về thân thể đây cũng vậy, cũng sẽ trở thành như thế, không có cách nào tránh thoát.

Rồi như thấy một xác chết bị bỏ nơi bãi tha ma, chỉ còn lại bộ xương không còn chút thịt nào và cũng không còn chút máu nào, các khớp xương còn gắn liền nhau bởi những sợi gân. Người Tỳ Kheo quán niệm về thân thể đây cũng vậy, cũng sẽ trở thành như thế, không có cách nào tránh thoát.

Rồi như thấy một xác chết bị bỏ nơi bãi tha ma, chỉ còn lại đống xương rời rạc, chỗ này là xương tay, xương chân, chỗ kia là xương đùi, xương mông, xương sống, xương sọ. Người Tỳ Kheo quán niệm về thân thể đây cũng vậy, cũng sẽ trở thành như thế, không có cách nào tránh thoát.

Rồi như thấy một xác chết bị bỏ nơi bãi tha ma, chỉ còn lại đống xương trắng màu vỏ ốc. Người Tỳ Kheo quán niệm về thân thể đây cũng vậy, cũng sẽ trở thành như thế, không có cách nào tránh thoát.

Rồi như thấy một xác chết bị bỏ nơi bãi tha ma, chỉ còn lại đống xương khô đã hơn một năm. Người Tỳ Kheo quán niệm về thân thể đây cũng vậy, cũng sẽ trở thành như thế, không có cách nào tránh thoát.

Rồi như thấy một xác chết bị bỏ nơi bãi tha ma, chỉ còn lại đống xương đã rã nát thành tro bụi. Người Tỳ Kheo quán niệm về thân thể đây cũng vậy, cũng sẽ trở thành như thế, không có cách nào tránh thoát.

Như thế, người Tỳ Kheo an trú trong sự quán niệm về thân thể nơi thân thể, hoặc bên trong thân thể, hoặc bên ngoài thân thể, hoặc bên trong và bên ngoài thân thể. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi nơi thân thể, hoặc quá trình hoại diệt nơi thân thể, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hoại diệt nơi thân thể. Hoặc người ấy quán niệm: “Có thân thể đây”, để phát khởi ý thức chánh niệm về thân thể. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm và cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người Tỳ Kheo quán niệm về thân thể nơi thân thể là như vậy.

Người Tỳ Kheo quán niệm về cảm thọ nơi cảm thọ như thế nào?

Khi có cảm giác khoái lạc, người Tỳ Kheo ý thức là đang có cảm giác khoái lạc. Khi có cảm giác đau khổ, người Tỳ Kheo ý thức là đang có cảm giác đau khổ. Khi có cảm giác không khoái lạc cũng không đau khổ, người Tỳ Kheo ý thức là đang có cảm giác không khoái lạc cũng không đau khổ.

Khi có cảm giác khoái lạc về thể xác, người Tỳ Kheo ý thức là đang có cảm giác khoái lạc về thể xác. Khi có cảm giác khoái lạc về tinh thần, người Tỳ Kheo ý thức là đang có cảm giác khoái lạc về tinh thần.

Khi có cảm giác đau khổ về thể xác, người Tỳ Kheo ý thức là đang có cảm giác đau khổ về thể xác. Khi có cảm giác đau khổ về tinh thần, người Tỳ Kheo ý thức là đang có cảm giác đau khổ về tinh thần.

Khi có cảm giác không khoái lạc cũng không đau khổ về thể xác, người Tỳ Kheo ý thức là đang có cảm giác không khoái lạc cũng không đau khổ về thể xác. Khi có cảm giác không khoái lạc cũng không đau khổ về tinh thần, người Tỳ Kheo ý thức là đang có cảm giác không khoái lạc cũng không đau khổ về tinh thần.

Như thế, người Tỳ Kheo an trú trong sự quán niệm về cảm thọ nơi cảm thọ, hoặc bên trong cảm thọ, hoặc bên ngoài cảm thọ, hoặc bên trong và bên ngoài cảm thọ. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi nơi cảm thọ, hoặc quá trình hoại diệt nơi cảm thọ, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hoại diệt nơi cảm thọ. Hoặc người ấy quán niệm: “Có cảm thọ đây”, để phát khởi ý thức chánh niệm về cảm thọ. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm và cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người Tỳ Kheo quán niệm về cảm thọ nơi cảm thọ là như vậy.

Người Tỳ Kheo quán niệm về tâm thức nơi tâm thức như thế nào?

Khi tâm thức có tham dục, người Tỳ Kheo ý thức là tâm thức có tham dục. Khi tâm thức không có tham dục, người Tỳ Kheo ý thức là tâm thức không có tham dục.

Khi tâm thức có sân hận, người Tỳ Kheo ý thức là tâm thức có sân hận. Khi tâm thức không có sân hận, người Tỳ Kheo ý thức là tâm thức không có sân hận.

Khi tâm thức có si mê, người Tỳ Kheo ý thức là tâm thức có si mê. Khi tâm thức không có si mê, người Tỳ Kheo ý thức là tâm thức không có si mê.

Khi tâm thức có thu nhiếp, người Tỳ Kheo ý thức là tâm thức có thu nhiếp. Khi tâm thức có tán loạn, người Tỳ Kheo ý thức là tâm thức có tán loạn.

Khi tâm thức trở thành rộng lớn, người Tỳ Kheo ý thức là tâm thức trở thành rộng lớn. Khi tâm thức trở thành hạn hẹp, người Tỳ Kheo ý thức là tâm thức trở thành hạn hẹp.

Khi tâm thức đạt đến trạng thái cao nhất, người Tỳ Kheo ý thức là tâm thức đạt đến trạng thái cao nhất. Khi tâm thức không đạt đến trạng thái cao nhất, người Tỳ Kheo ý thức là tâm thức không đạt đến trạng thái cao nhất.

Khi tâm thức có định, người Tỳ Kheo ý thức là tâm thức có định. Khi tâm thức không có định, người Tỳ Kheo ý thức là tâm thức không có định.

Khi tâm thức có giải thoát, người Tỳ Kheo ý thức là tâm thức có giải thoát. Khi tâm thức không có giải thoát, người Tỳ Kheo ý thức là tâm thức không có giải thoát.

Như thế, người Tỳ Kheo an trú trong sự quán niệm về tâm thức nơi tâm thức, hoặc bên trong tâm thức, hoặc bên ngoài tâm thức, hoặc bên trong và bên ngoài tâm thức. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi nơi tâm thức, hoặc quá trình hoại diệt nơi tâm thức, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hoại diệt nơi tâm thức. Hoặc người ấy quán niệm: “Có tâm thức đây”, để phát khởi ý thức chánh niệm về tâm thức. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm và cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người Tỳ Kheo quán niệm về tâm thức nơi tâm thức là như vậy.

Người Tỳ Kheo quán niệm về đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức như thế nào?

Trước hết, người Tỳ Kheo quán niệm về năm hiện tượng ngăn che như đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức. Quán niệm bằng cách nào?

Khi có một niệm ái dục, người Tỳ Kheo ý thức là có một niệm ái dục. Khi không có một niệm ái dục, người Tỳ Kheo ý thức là không có một niệm ái dục.

Khi một niệm ái dục chưa phát sinh, nay bắt đầu phát sinh, người Tỳ Kheo ý thức về sự sinh khởi ấy. Khi một niệm ái dục đã phát sinh, nay đang hoại diệt, người Tỳ Kheo ý thức về sự hoại diệt ấy. Khi một niệm ái dục đã hoại diệt và không còn phát khởi lại nữa, người Tỳ Kheo cũng ý thức về điều đó.

Khi có một niệm sân hận, người Tỳ Kheo ý thức là có một niệm sân hận. Khi không có một niệm sân hận, người Tỳ Kheo ý thức là không có một niệm sân hận.

Khi một niệm sân hận chưa phát sinh, nay bắt đầu phát sinh, người Tỳ Kheo ý thức về sự sinh khởi ấy. Khi một niệm sân hận đã phát sinh, nay đang hoại diệt, người Tỳ Kheo ý thức về sự hoại diệt ấy. Khi một niệm sân hận đã hoại diệt và không còn phát khởi lại nữa, người Tỳ Kheo cũng ý thức về điều đó.

Khi có sự u mê và buồn ngủ, người Tỳ Kheo ý thức là có sự u mê và buồn ngủ. Khi không có sự u mê và buồn ngủ, người Tỳ Kheo ý thức là không có sự u mê và buồn ngủ.

Khi sự u mê và buồn ngủ chưa phát sinh, nay bắt đầu phát sinh, người Tỳ Kheo ý thức về sự sinh khởi ấy. Khi sự u mê và buồn ngủ đã phát sinh, nay đang hoại diệt, người Tỳ Kheo ý thức về sự hoại diệt ấy. Khi sự u mê và buồn ngủ đã hoại diệt và không còn phát khởi lại nữa, người Tỳ Kheo cũng ý thức về điều đó.

Khi có sự giao động bất an và hối hận, người Tỳ Kheo ý thức là có sự giao động bất an và hối hận. Khi không có sự giao động bất an và hối hận, người Tỳ Kheo ý thức là không có sự giao động bất an và hối hận.

Khi sự giao động bất an và hối hận chưa phát sinh, nay bắt đầu phát sinh, người Tỳ Kheo ý thức về sự sinh khởi ấy. Khi sự giao động bất an và hối hận đã phát sinh, nay đang hoại diệt, người Tỳ Kheo ý thức về sự hoại diệt ấy. Khi sự giao động bất an và hối hận đã hoại diệt và không còn phát khởi lại nữa, người Tỳ Kheo cũng ý thức về điều đó.

Khi có sự nghi ngờ, người Tỳ Kheo ý thức là có sự nghi ngờ. Khi không có sự nghi ngờ, người Tỳ Kheo ý thức là không có sự nghi ngờ.

Khi sự nghi ngờ chưa phát sinh, nay bắt đầu phát sinh, người Tỳ Kheo ý thức về sự sinh khởi ấy. Khi sự nghi ngờ đã phát sinh, nay đang hoại diệt, người Tỳ Kheo ý thức về sự hoại diệt đó. Khi sự nghi ngờ đã hoại diệt và không còn phát khởi lại nữa, người Tỳ Kheo cũng ý thức về điều đó.

Như thế, người Tỳ Kheo an trú trong sự quán niệm về đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức, hoặc bên trong đối tượng tâm thức, hoặc bên ngoài đối tượng tâm thức, hoặc bên trong và bên ngoài đối tượng tâm thức. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi nơi đối tượng tâm thức, hoặc quá trình hoại diệt nơi đối tượng tâm thức, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hoại diệt nơi đối tượng tâm thức. Hoặc người ấy quán niệm: “Có đối tượng tâm thức đây”, để phát khởi ý thức chánh niệm về đối tượng tâm thức. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm và cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người Tỳ Kheo quán niệm về năm hiện tượng ngăn che như đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức là như vậy.

Tiếp đó, người Tỳ Kheo quán niệm về sự bám víu vào năm uẩn như đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức. Quán niệm bằng cách nào?

Người Tỳ Kheo quán niệm như sau:

Đây là sắc. Đây là sự phát sinh của sắc. Đây là sự hoại diệt của sắc.

Đây là thọ. Đây là sự phát sinh của thọ. Đây là sự hoại diệt của thọ.

Đây là tưởng. Đây là sự phát sinh của tưởng. Đây là sự hoại diệt của tưởng.

Đây là hành. Đây là sự phát sinh của hành. Đây là sự hoại diệt của hành.

Đây là thức. Đây là sự phát sinh của thức. Đây là sự hoại diệt của thức.

Như thế, người Tỳ Kheo an trú trong sự quán niệm về đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức, hoặc bên trong đối tượng tâm thức, hoặc bên ngoài đối tượng tâm thức, hoặc bên trong và bên ngoài đối tượng tâm thức. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi nơi đối tượng tâm thức, hoặc quá trình hoại diệt nơi đối tượng tâm thức, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hoại diệt nơi đối tượng tâm thức. Hoặc người ấy quán niệm: “Có đối tượng tâm thức đây”, để phát khởi ý thức chánh niệm về đối tượng tâm thức. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm và cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người Tỳ Kheo quán niệm về sự bám víu vào năm uẩn như đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức là như vậy.

Tiếp đó, người Tỳ Kheo quán niệm về sáu giác quan và sáu đối tượng của giác quan như đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức. Quán niệm bằng cách nào?

Người Tỳ Kheo ý thức về mắt và đối tượng của mắt là hình sắc. Người ấy ý thức về những ràng buộc tạo nên do mắt và hình sắc. Người ấy ý thức về những ràng buộc chưa phát sinh, nay đang phát sinh, về những ràng buộc đã phát sinh, nay đang hoại diệt, về những ràng buộc đã hoại diệt và không còn phát khởi lại nữa.

Người Tỳ Kheo ý thức về tai và đối tượng của tai là âm thanh. Người ấy ý thức về những ràng buộc tạo nên do tai và âm thanh. Người ấy ý thức về những ràng buộc chưa phát sinh, nay đang phát sinh, về những ràng buộc đã phát sinh, nay đang hoại diệt, về những ràng buộc đã hoại diệt và không còn phát khởi lại nữa.

Người Tỳ Kheo ý thức về mũi và đối tượng của mũi là mùi hương. Người ấy ý thức về những ràng buộc tạo nên do mũi và mùi hương. Người ấy ý thức về những ràng buộc chưa phát sinh, nay đang phát sinh, về những ràng buộc đã phát sinh, nay đang hoại diệt, về những ràng buộc đã hoại diệt và không còn phát khởi lại nữa.

Người Tỳ Kheo ý thức về lưỡi và đối tượng của lưỡi là vị nếm. Người ấy ý thức về những ràng buộc tạo nên do lưỡi và vị nếm. Người ấy ý thức về những ràng buộc chưa phát sinh, nay đang phát sinh, về những ràng buộc đã phát sinh, nay đang hoại diệt, về những ràng buộc đã hoại diệt và không còn phát khởi lại nữa.

Người Tỳ Kheo ý thức về thân và đối tượng của thân là sự xúc chạm. Người ấy ý thức về những ràng buộc tạo nên do thân và sự xúc chạm. Người ấy ý thức về những ràng buộc chưa phát sinh, nay đang phát sinh, về những ràng buộc đã phát sinh, nay đang hoại diệt, về những ràng buộc đã hoại diệt và không còn phát khởi lại nữa.

Người Tỳ Kheo ý thức về ý và đối tượng của ý là tư tưởng. Người ấy ý thức về những ràng buộc tạo nên do ý và tư tưởng. Người ấy ý thức về những ràng buộc chưa phát sinh, nay đang phát sinh, về những ràng buộc đã phát sinh, nay đang hoại diệt, về những ràng buộc đã hoại diệt và không còn phát khởi lại nữa.

Như thế, người Tỳ Kheo an trú trong sự quán niệm về đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức, hoặc bên trong đối tượng tâm thức, hoặc bên ngoài đối tượng tâm thức, hoặc bên trong và bên ngoài đối tượng tâm thức. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi nơi đối tượng tâm thức, hoặc quá trình hoại diệt nơi đối tượng tâm thức, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hoại diệt nơi đối tượng tâm thức. Hoặc người ấy quán niệm: “Có đối tượng tâm thức đây”, để phát khởi ý thức chánh niệm về đối tượng tâm thức. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm và cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người Tỳ Kheo quán niệm về sáu giác quan và sáu đối tượng của giác quan như đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức là như vậy.

Tiếp đó, người Tỳ Kheo quán niệm về bảy yếu tố của sự giác ngộ như đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức. Quán niệm bằng cách nào?

Khi có chánh niệm, người Tỳ Kheo ý thức là có chánh niệm. Người ấy quán niệm: Tâm thức đang có chánh niệm. Khi không có chánh niệm, người Tỳ Kheo ý thức là không có chánh niệm. Người ấy ý thức về sự chánh niệm chưa phát sinh, nay đang phát sinh, về sự chánh niệm đã phát sinh, nay đang thành tựu.

Khi có trạch pháp, người Tỳ Kheo ý thức là có trạch pháp. Người ấy quán niệm: Tâm thức đang có trạch pháp. Khi không có trạch pháp, người Tỳ Kheo ý thức là không có trạch pháp. Người ấy ý thức về sự trạch pháp chưa phát sinh, nay đang phát sinh, về sự trạch pháp đã phát sinh, nay đang thành tựu.

Khi có tinh tấn, người Tỳ Kheo ý thức là có tinh tấn. Người ấy quán niệm: Tâm thức đang có tinh tấn. Khi không có tinh tấn, người Tỳ Kheo ý thức là không có tinh tấn. Người ấy ý thức về sự tinh tấn chưa phát sinh, nay đang phát sinh, về sự tinh tấn đã phát sinh, nay đang thành tựu.

Khi có hoan hỷ, người Tỳ Kheo ý thức là có hoan hỷ. Người ấy quán niệm: Tâm thức đang có hoan hỷ. Khi không có hoan hỷ, người Tỳ Kheo ý thức là không có hoan hỷ. Người ấy ý thức về sự hoan hỷ chưa phát sinh, nay đang phát sinh, về sự hoan hỷ đã phát sinh, nay đang thành tựu.

Khi có khinh an, người Tỳ Kheo ý thức là có khinh an. Người ấy quán niệm: Tâm thức đang có khinh an. Khi không có khinh an, người Tỳ Kheo ý thức là không có khinh an. Người ấy ý thức về sự khinh an chưa phát sinh, nay đang phát sinh, về sự khinh an đã phát sinh, nay đang thành tựu.

Khi có định, người Tỳ Kheo ý thức là có định. Người ấy quán niệm: Tâm thức đang có định. Khi không có định, người Tỳ Kheo ý thức là không có định. Người ấy ý thức về sự định tâm chưa phát sinh, nay đang phát sinh, về sự định tâm đã phát sinh, nay đang thành tựu.

Khi có buông xả, người Tỳ Kheo ý thức là có buông xả. Người ấy quán niệm: Tâm thức đang có buông xả. Khi không có buông xả, người Tỳ Kheo ý thức là không có buông xả. Người ấy ý thức về sự buông xả chưa phát sinh, nay đang phát sinh, về sự buông xả đã phát sinh, nay đang thành tựu.

Như thế, người Tỳ Kheo an trú trong sự quán niệm về đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức, hoặc bên trong đối tượng tâm thức, hoặc bên ngoài đối tượng tâm thức, hoặc bên trong và bên ngoài đối tượng tâm thức. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi nơi đối tượng tâm thức, hoặc quá trình hoại diệt nơi đối tượng tâm thức, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hoại diệt nơi đối tượng tâm thức. Hoặc người ấy quán niệm: “Có đối tượng tâm thức đây”, để phát khởi ý thức chánh niệm về đối tượng tâm thức. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm và cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người Tỳ Kheo quán niệm về bảy yếu tố của sự giác ngộ như đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức là như vậy.

Tiếp đó, người Tỳ Kheo quán niệm về bốn sự thật cao quý như đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức. Quán niệm bằng cách nào?

Khi sự kiện là đau khổ, người Tỳ Kheo quán niệm: Đây là đau khổ. Khi sự kiện là nguyên nhân đưa đến đau khổ, người Tỳ Kheo quán niệm: Đây là nguyên nhân đưa đến đau khổ. Khi sự kiện là sự chấm dứt đau khổ, người Tỳ Kheo quán niệm: Đây là sự chấm dứt đau khổ. Khi sự kiện là con đường đưa đến sự chấm dứt đau khổ, người Tỳ Kheo quán niệm: Đây là con đường đưa đến sự chấm dứt đau khổ.

Như thế, người Tỳ Kheo an trú trong sự quán niệm về đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức, hoặc bên trong đối tượng tâm thức, hoặc bên ngoài đối tượng tâm thức, hoặc bên trong và bên ngoài đối tượng tâm thức. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi nơi đối tượng tâm thức, hoặc quá trình hoại diệt nơi đối tượng tâm thức, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hoại diệt nơi đối tượng tâm thức. Hoặc người ấy quán niệm: “Có đối tượng tâm thức đây”, để phát khởi ý thức chánh niệm về đối tượng tâm thức. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm và cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người Tỳ Kheo quán niệm về bốn sự thật cao quý như đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức là như vậy.

Này các vị, người Tỳ Kheo nào thực hành bốn lãnh vực quán niệm trên trong bảy năm, người ấy có thể đạt được quả vị chánh trí ngay nơi đây và trong kiếp này. Hoặc nếu còn dư báo thì có thể đạt được quả vị không còn trở lại.

Này các vị, đừng nói gì đến bảy năm. Người nào thực hành bốn lãnh vực quán niệm trên trong sáu năm, năm năm, bốn năm, ba năm, hai năm, hoặc một năm, người ấy cũng có thể có khả năng đạt được quả vị chánh trí ngay nơi đây và trong kiếp này. Hoặc nếu còn dư báo thì có thể đạt được quả vị không còn trở lại.

Này các vị, đừng nói gì đến một năm. Người nào thực hành bốn lãnh vực quán niệm trên trong bảy tháng, sáu tháng, năm tháng, bốn tháng, ba tháng, hai tháng, một tháng, hoặc nửa tháng, người ấy cũng có thể có khả năng đạt được quả vị chánh trí ngay nơi đây và trong kiếp này. Hoặc nếu còn dư báo thì có thể đạt được quả vị không còn trở lại.

Này các vị, đừng nói gì đến nửa tháng. Người nào thực hành bốn lãnh vực quán niệm trên trong bảy ngày, người ấy cũng có thể có khả năng đạt được quả vị chánh trí ngay nơi đây và trong kiếp này. Hoặc nếu còn dư báo thì có thể đạt được quả vị không còn trở lại.

Đó là lý do tại sao mà tôi đã nói: Đây là con đường duy nhất để thanh tịnh thân tâm, vượt thắng phiền não, diệt trừ ưu khổ, đạt tới chánh đạo và chứng nhập Niết Nàn. Đó là con đường của bốn lãnh vực quán niệm.

Đức Phật đã nói như vậy. Các vị Tỳ Kheo hoan hỷ ghi nhận và thực tập theo lời Ngài.

oOo

DOWNLOAD

docx file
https://1drv.ms/w/s!ArEWxEW6PMFLgVCmkskqMwIAGoRg?e=V2rp2C

pdf file
https://1drv.ms/b/s!ArEWxEW6PMFLgVH3rTcgj56sPUZx?e=NVHWo0













































Thursday, November 28, 2019

ĐÊM ĐÔNG VÀ EM

Bếp lửa hồng đêm nay cháy đỏ
Và em cô đơn trong căn phòng này 
Ta vẫn xa nghìn trùng thiên lý
Day dứt trong lòng vì nhớ ai

Bếp lửa hồng vẫn cháy mênh mang 
Đêm thanh vắng có ai bên nàng
Ôm ấp trái tim nghe hạnh phúc 
Chảy theo ngày tháng để ủi an

Em ơi, lời của gió vô vàn 
Em ơi, lời của tuyết lan man
Em ơi, lời nói ta câm nín
Nghẹn môi rồi có biết hay chăng

Bếp lửa hồng âm thầm tỏa sáng
Một tiếng vọng từ trong giấc mơ 
Nhắm mắt lại qua một tối nữa 
Em sẽ lại vui như ngày xưa...

Nguyễn Chí Hiệp 
28.11.2019

Sunday, November 17, 2019

Saturday, November 9, 2019

Thiên đường một thuở

Anh đến tự bao giờ
lặng nhìn em qua rào thưa
trời trưa nắng hạ.
Vườn trầu xanh êm ả
tóc em dài
chiếc nón lá chao nghiêng
Một góc nhìn nối mộng bình yên
đưa tay hái trái nhãn lồng chín đỏ
Đâu biết ngoài kia
anh muốn làm con chim nhỏ
tựa bên em say mật ngọt nhãn lồng
Giấc mơ đời xanh như một dòng sông
với khúc Lý Chim Quyên
ru tình nồng năm tháng
Trải hồn thơ
cho thi tình lãng mạn
ta say sưa quên mất lối đi về
Em cũng như anh
tròn kiếp đam mê
ôm bóng mát ca dao
nghe lời quê lắng đọng
Một chiếc lá rơi
mặt hồ gợn sóng
đủ cho ta thao thức một trời buồn
Chấp cánh hồng bay bổng giữa yêu thương
vang khúc hát trong thiên đường mơ ước
                         MTT
                (ATL-Dec.02.2000


Dòng đời

Xuân về gửi mộng cho nhau
Hà hương xông tóc, hái sao lưng trời
Bướm bay trên mắt môi cười
Hồn thơ hoa nở ngát lời yêu thương

Hạ hồng cháy đỏ cội nguồn
Giọt mưa thấm mát những non núi tình
Trái đời đơm lộc cành xanh
Tiếng tim trầm ấm ru mình cùng say

Thu bay theo lá vàng bay
Cho người góc biển chân mây ngậm sầu
Phong trần một cuộc bể dâu
Bến ngân ngồi đợi nhịp cầu sang sông

Nhạt nhòa bóng ngã chiều Đông
Tóc pha sợi bạc, lưng còng gió sương
Dìu nhau còn mấy bước đường
Trả ta cát bụi về phương trời nào

                        MTT
              (ATL- Mar.16, 2002

Thursday, November 7, 2019

Hân hạnh giới thiệu 2 tuyển tập thơ của Nhà thơ: Dương Ngọc Ánh và phu nhân: Mai Thanh Tuyền (Một Đời Cỏ Dại và Mây Xa)



Mây xa mờ mịt cố hương
Tháng ngày che khuất dáng thương quê nhà
Vần thơ ôm chặt tuổi già
Khát khao hình bóng mượt mà núi sông
Chứa chan thầm kín trong lòng
Giọt buồn lạnh cõi long đong xứ người....

Bạn đọc thân mến:

Chúng tôi sẽ lần lượt post giới thiệu những bài thơ của 2 tác giả
Mai Thanh Tuyền và Dương Ngọc Ánh trong trang riêng của 2 thi hữu trên, thân mời các bạn ghé đọc thưởng thức.
Nguyễn Hải