Monday, April 27, 2020

Cho Em

Những tháng ngày rất lạ
rồi cũng sẽ qua đi
và màu xanh trên lá
dìu em trên lối về

Cho em màu phượng đỏ
với nắng vàng trên vai
cho em ngàn nỗi nhớ
giữa trời mây trắng bay

Em hồn nhiên đi nhé
nghe gió hát lời vui
và bàn chân thật nhẹ
cho lối cỏ ngậm ngùi

Hãy cài hoa lên tóc
cho ngào ngạt mùi hương
và trên bờ môi mộc
nụ cười luôn vấn vương

Cho em từng tuổi đợi
trên bước đời chia xa
trần gian lên tiếng gọi
ngàn lời yêu thiết tha.

Nguyễn Ngọc Tú Anh
Sài Gòn 27/04/2020

Tuesday, April 21, 2020

Mẹ Già Ê-đê

Chiều nay Mẹ buồn bên hàng lá cỏ
Giấc mơ Ê-đê xin giữ vào lòng
Trên làn da sạm, nắng nghiêng bờ gió
Rẫy nương quê nhà, xa khuất mênh mông

Chiều nay Mẹ buồn, khóc vầng trăng cũ
Điệu múa tuổi thơ bên góc sân trường
Kỷ niệm ngày nao, vàng thu lá rũ
Dấu kín tim mình chiếc bóng yêu thương

Chiều nay Mẹ buồn, mong niềm tin đến
Tiếng hát mây bay trên miền núi cao
Chim Grứ gọi mời, Mẹ hoài thương mến
Sáo trúc Đinh Năm, reo nhớ hôm nào

Chiều nay Mẹ buồn giữa buôn làng vắng
Ánh lửa bập bềnh còn ấm hương quê
Mẹ nhớ thương con, vai gầy tóc trắng
Hoàng hôn đã tàn, con vẫn chưa về

Chiều nay Mẹ buồn, trăm điều nhung nhớ
Tiếng gõ cồng chiêng thăm hỏi người xưa
Ngày tháng học trò, chan hòa tay với
Thấy con ngoan hiền, chờ Mẹ đón đưa

Chiều nay Mẹ buồn, Tây Nguyên gió gọi
Dưới mái Nhà Dài, hát khúc bơ vơ
Nhìn lại tuổi thơ về theo bóng tối
Con ở nơi nào... có nhớ mưa rơi...

Trường Đinh
UK, sương mù già 2020

Chú thích:

+ Người Ê-đê: Một trong 54 dân tộc đang sinh sống trên đất nước Việt Nam, có tên tự là Anăk Ê-đê, hay Rha-đê. Người Ê-đê cư trú nhiều ở các tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông, Phú Yên và Khánh Hòa, có dân số trên khoảng 300 ngàn người. Nghề chính của dân tộc Ê-đê là làm rẫy và chăn nuôi gia súc. Gia đình người Ê-đê theo chế độ mẫu hệ, chủ gia đình là phụ nữ và con cái trong gia đình đều mang họ mẹ. Người đàn ông khi lập gia đình thì phải ở nhà vợ. Theo phong tục Ê-đê, người con trai không được thừa kế gia sản. Riêng người con gái út trong gia đình thì thừa kế nhà tự để thờ phụng ông bà và nuôi dưỡng mẹ cha già.

+ Giấc Mơ Ê-đê: Đây là giấc mơ của chàng trai trẻ Đam San từ một thuở xa xưa ấy, đã chống lại luật tục mẫu hệ ngàn đời của người dân Ê-đê, với ước mơ vĩ đại là cố bắt cho được vị Nữ Thần Mặt Trời về làm vợ.

+ Chim Grứ: Là giống chim đại bàng bay cao nhất trong các loài chim. Vũ điệu chim Grứ là điệu múa truyền thống của dân tộc Ê-đê trong các buổi lễ hội địa phương. Các động tác múa chim được mô phỏng theo cánh chim đại bàng đang bay lượn giữa trời cao, với đội hình số lẻ 3, 5, 7 hoặc 9 người. Theo quan niệm tâm linh của người dân Ê-đê, linh hồn người chết sẽ tái hiện trở về với hình ảnh con chim Grứ. Và sau 7 lần biến dạng hình, linh hồn sẽ đầu thai trở lại làm người trên cõi thế gian.

+ Sáo Trúc Đinh Năm: Còn gọi là Đing Năm (Theo tiếng Ê-đê, Đing có nghĩa là ống sáo trúc, Năm có nghĩa là số 6). Đing Năm gồm có 6 ống nứa 2 bè dài ngắn khác nhau, cắm vào một trái bầu khô. Trên mỗi lưng nứa có khoét một lỗ nhỏ để tạo thành nốt nhạc. Ngoài loại Đing Năm 6 lỗ, còn có các loại sáo trúc khác như Đing Tak Tar (một ống nứa 3 lỗ) và Đing Buốt Klia (một ống nứa 4 lỗ).

+ Tây Nguyên: Còn gọi là Cao Nguyên Trung Phần, nằm gần đường Xích Đạo và cách xa bờ biển, bao gồm những vùng Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng. Tây Nguyên thích hợp với các loại cây công nghiệp như Cà phê, Ca cao, Hồ tiêu, Dâu tằm, Cây điều và Cao su, đang được phát triển mạnh tại đây.

+ Cồng Chiêng: Đây là bộ nhạc khí phổ biến của đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam, được làm bằng đồng. Khi biển diễn, Cồng Chiêng được đánh gõ với cây dùi gỗ bọc vải. Cồng, còn gọi là Knah, cở nhỏ, gồm có 6 chiếc không có núm ở giữa. Chiêng, còn gọi là Ching, lớn hơn Cồng, với nhiều kích thước to nhỏ khác nhau, gồm có 3 chiếc có núm.

+ Nhà Dài: Ngôi nhà dài của dân tộc Ê-đê là nhà sống chung của dòng họ, được làm bằng tre nứa, gỗ và cỏ tranh. Phía trước nhà dài có 2 cây cầu thang được chạm khắc bằng tay. Cây cầu đực khắc hình con rùa và mặt trời (hoặc ngôi sao 8 cánh), biểu trưng cho tính dương, dùng cho người đàn ông trong gia đình. Cây cầu cái có khắc hình 2 bầu vú và mặt trăng khuyết, biểu trưng cho tính âm, dành cho người phụ nữ và khách viếng thăm. Trên mỗi cầu thang có 5 hoặc 7 bậc, là những con số may mắn thể hiện sự sanh sôi nảy nở và tài lộc sung túc. Người đàn ông trong gia đình bị cấm lên nhà dài bằng cầu thang cái, nếu trái luật sẽ bị phạt tiền và heo gà. Trong những ngày lễ lớn, nếu có vị khách quý khi được mời lên nhà dài bằng cây cầu cái, vị khách ấy phải thể hiện sự tôn trọng người phụ nữ gia đình và văn hóa mẫu hệ Ê-đê bằng cách sờ vào 2 bầu vú trên cầu thang để bước lên nhà dài.








Sunday, April 19, 2020

Sa La Xứ Huế

Chiều xứ Thơ đi vào lòng kỷ niệm
Giọt mưa buồn trên đôi mắt em thương
Đồng Khánh xưa, thuở hôm nào áo tím
Tuổi học trò bên ngày tháng vấn vương

Dòng Hương Giang lững lờ reo trên sóng
Bềnh bồng trôi một cõi nhớ ngẩn ngơ
Nón bài thơ che nghiêng bờ vai mỏng
Để bây chừ còn mãi những ước mơ

Nhánh Sen Trời khoe sắc màu Thiên Mụ
Hương ngạt ngào như trang điểm cánh thư
Gió trăm năm bên mái chùa xưa cũ
Vẫn dịu dàng điệu hát Huế trầm tư

Đóa Sa La nở hồng trên tay ấm
Lý Mười Thương trong tim ấm nồng nàn
Tiếng chuông chùa gõ nhịp lòng xa thẳm
Huế mơ màng trên chiếc áo thời gian

Ngọc Kỳ Lân như vầng mây khoe dáng
Gió Đông Ba từ muôn thuở ru hời
Rừng núi Ngự vẫn còn đây năm tháng
Cầu Trường Tiền, em đẹp như áng thơ

Huế chiều nay sao mà thương nhớ quá
Hạt mưa Ngâu ni nớ đã trao tình
Đóa Sa La, niềm yêu như biển cả
Nhánh hương lòng còn nở mãi lung linh

Trường Đinh
UK, sương mù già 2020

Chú thích:

+ Cây Sa La: Còn gọi là cây Đầu Lân, cây Hàm Rồng, hay là cây Ngọc Kỳ Lân, được trồng trong khuôn viên chùa Thiên Mụ - Huế. Theo truyền thuyết, hoa Sa La gắn liền với nhiều sự kiện quan trọng trong cuộc đời của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Hoa Sa La biểu trưng cho sự bình yên và tĩnh lặng, nên còn gọi là hoa Vô Ưu. Cây Sa La có trái nặng hơn 4 kg, trong trái có hạt để dùng trồng thành cây. Đóa Sa La còn được ví như một loại Sen Trời bởi hình dáng đẹp và hương thơm ngạt ngào thanh thoát.

+ Chùa Thiên Mụ: Còn gọi là chùa Linh Mụ (Bà mụ linh thiêng), một ngôi chùa cổ đã trên 400 năm tuổi, nằm trên đồi Hà Khê thuộc phần tả ngạn sông Hương. Người dân địa phương cũng thường gọi là chùa Tiên Mụ (Bà mụ thần tiên).

+ Dòng Hương Giang: Một nhánh sông đẹp chảy qua thành phố Huế, là một trong những biểu tượng nổi bật của xứ Huế. Những biểu tượng khác của Huế là núi Ngự Bình, cầu Trường Tiền, chợ Đông Ba và chùa Thiên Mụ.

+ Núi Ngự Bình: Vùng núi cao thơ mộng của xứ Huế, ở phía bờ phải sông Hương, còn gọi là núi Ngự. Trước đó còn có tên là Hòn Mô, núi Bằng, hay còn gọi là Bằng Sơn.

+ Cầu Trường Tiền: Còn gọi là cầu Tràng Tiền, bắc qua sông Hương, dài trên 402m, có 6 vài 12 nhịp hình bán nguyệt, nằm ở ngay giữa thành phố Huế. Trước thời Pháp thuộc, dân địa phương quen gọi là cầu Mống.

+ Xứ Thơ: Cũng là một tên gọi cho vùng đất Thần Kinh Huế vì nét đẹp lãng mạn và mộng mơ của miền đất Trung Bộ. Từ năm 1802, kinh đô Huế là thủ đô của Việt Nam sau khi chúa Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi hoàng đế, và kết thúc triều đại phong kiến vào năm 1945 khi vua Bảo Đại thoái vị. Vì vậy, kinh đô Huế ngày nay còn được biết đến là một Cố Đô Huế.

+ Lý Mười Thương: Một làn điệu dân ca Huế diễn tả mười nét yêu thương về người con gái Huế bên dòng Hương Giang, từ dáng nét đoan trang với chiếc nón Huế và tà áo gió bay, cho đến nụ cười, suối tóc và tiếng nói dịu hiền.

+ Đông Ba: Một khu vực thương mại lớn nhất của xứ Huế cổ kính, nằm dọc theo bờ bắc sông Hương, cách cầu Trường Tiền khoảng 100m.

+ Mưa Ngâu: Tên gọi cho những cơn mưa tầm tả vào tháng 7. Sự tích kể rằng, nàng Chức Nữ và chàng Ngưu Lang yêu nhau thắm thiết đêm ngày đã chểnh mảng công việc của Trời giao, nàng thì quên dệt vải, chàng thì quên chăn trâu. Nên bị Trời đọa xuống bờ sông Ngâu, mỗi người ở một bên bờ, và mỗi năm chỉ được gặp nhau một lần vào ngày 7 tháng 7 âm lịch. Vào ngày ấy, mưa dầm dề ray rứt, đó là nước mắt đau thương của Ngưu Lang và Chức Nữ khóc cho chuyện tình mình.

+ Trường Đồng Khánh: Trường nữ sinh Đồng Khánh tại Huế, nay là Trường trung học phổ thông Hai Bà Trưng, có độ tuổi trên 100 năm. Đồng phục cho các nữ sinh Đồng Khánh đã thay đổi qua 3 sắc màu theo thời gian (1917-2020), từ áo tím trước đó sang áo xanh thời Pháp thuộc và rồi chuyển sang màu trắng. Tên của trường cũng đã thay đổi 3 lần, từ Đồng Khánh (1917) đến Trưng Trắc (1975) và ngày nay là Hai Bà Trưng (1983).





Sunday, April 5, 2020

KẺ Ở - NGƯỜI ĐI


(Viết cho những cuộc chia ly 1975)

*KẺ Ở

Biệt ly rồi biết còn ngày gặp lại!?

Tháng ba xưa rớm lệ tiễn chân người
Trời nổi gió, triền lau mờ khói sóng
Bóng thuyền xa… từ đó lạnh đôi bờ

Cầu ô thước - chia hai đầu nỗi nhớ

Bao mùa qua lá đỏ rụng bên mành
Người ở lại đêm từng đêm khắc khoải
Hỏi người đi lòng có thấy đoạn đành?

Biết lấy gì ước hẹn chuyện mai sau!

Người phiêu bạt vó ngựa hoài rong ruỗi
Ôi thời gian vòng xe không quay ngược
Mãi vô tình mang con nước trôi xuôi…

Xế ngang trời lặng lẽ ánh trăng treo

Đêm trở giấc ngọn đèn khuya hắt bóng
Gió xào xạc bên ngoài khung cửa lạnh
Thoáng mơ hồ ai mới lướt qua song.

Hoa cuối mùa dần cũng nhạt phai hương

Lối quen cũ lên xanh màu cỏ dại
Góc phố nhỏ nhớ người chong mắt đợi
Mà người đi biền biệt tháng năm dài…

*NGƯỜI ĐI


Năm tháng xưa hằn sâu trong ký ức

Lòng người đi đau đáu một góc trời
Từng con sóng bạc đầu xô cuốn mãi
Bóng quê nhà vời vợi khuất ngàn khơi

Có đôi khi thèm sợi khói chiều rơi

Lòng viễn xứ mơ về bên bếp lửa
Cặp mắt đen gặp tình cờ đất khách
Thoáng áo dài cũng gợi nhớ người xưa

Bến sông buồn - lệ ướt buổi tiễn đưa

Tay níu chặt - sợ mai rồi mất dấu
Thuyền rời bến dáng em dần mờ khuất
Ta theo dòng chẳng biết dạt về đâu!?

Người ra đi lạnh buốt những mùa ngâu

Đêm mộng thấy xuôi thuyền về qua bãi
Giọt nước mắt cuốn trôi thời lưu lạc
Nụ cười em quên hết tháng năm dài…

Có còn không một ngày ta trở lại

Nắn phím đàn hong lại những cung tơ
Bên bếp lửa chụm đầu ôn chuyện cũ
Ngày hồi hương liệu còn có bao giờ!?...

PHAN MẠNH THU





Bên dòng suối

Thơ: Nguyễn Dũng
Phổ nhạc: Hà Lan Phương


Friday, April 3, 2020