Monday, December 2, 2019

Kinh Bốn Lãnh Vực Quán Niệm

Trường Dinh, chuyển dịch sang Việt ngữ với sơ đồ tóm lược.

Tôi nghe như vầy. Một thuở nọ, Đức Phật đang cư trú ở Kammasadamma, một khu phố của xứ Kuru. Một hôm, Ngài gọi các vị Tỳ Kheo và nói rằng: Này các vị, đây là con đường duy nhất để thanh tịnh thân tâm, vượt thắng phiền não, diệt trừ ưu khổ, đạt tới chánh đạo và chứng nhập Niết Bàn. Đó là con đường của bốn lãnh vực quán niệm.

Bốn lãnh vực quán niệm là những lãnh vực gì?

Người Tỳ Kheo quán niệm về thân thể nơi thân thể, tinh cần, ý thức rõ ràng và sáng suốt về thân thể, xa lìa mọi tham đắm và ưu tư đối với cuộc đời.

Người ấy quán niệm về cảm thọ nơi cảm thọ, tinh cần, ý thức rõ ràng và sáng suốt về cảm thọ, xa lìa mọi tham đắm và ưu tư đối với cuộc đời.

Người ấy quán niệm về tâm thức nơi tâm thức, tinh cần, ý thức rõ ràng và sáng suốt về tâm thức, xa lìa mọi tham đắm và ưu tư đối với cuộc đời.

Người ấy quán niệm về đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức, tinh cần, ý thức rõ ràng và sáng suốt về đối tượng tâm thức, xa lìa mọi tham đắm và ưu tư đối với cuộc đời.

Người Tỳ Kheo quán niệm về thân thể nơi thân thể như thế nào?

Người ấy tìm đến một khu rừng, hoặc một gốc cây, hoặc một nơi vắng vẻ, ngồi xếp bằng, lưng giữ thẳng và thiết lập ý thức chánh niệm trên đối tượng thiền định. Với ý thức rõ ràng và sáng suốt, người ấy thở vào. Với ý thức rõ ràng và sáng suốt, người ấy thở ra.

Thở vào một hơi thở dài, người ấy ý thức là đang thở vào một hơi thở dài. Thở ra một hơi thở dài, người ấy ý thức là đang thở ra một hơi thở dài.

Thở vào một hơi thở ngắn, người ấy ý thức là đang thở vào một hơi thở ngắn. Thở ra một hơi thở ngắn, người ấy ý thức là đang thở ra một hơi thở ngắn.

Người Tỳ Kheo tự mình thực tập như sau:

Với sự chú tâm và ghi nhận rõ ràng về toàn hơi thở vào, người ấy thở vào. Với sự chú tâm và ghi nhận rõ ràng về toàn hơi thở ra, người ấy thở ra.

Với sự nỗ lực chú tâm về sự lắng dịu của toàn hơi thở vào, người ấy thở vào. Với sự nỗ lực chú tâm về sự lắng dịu của toàn hơi thở ra, người ấy thở ra.

Như người thợ tiện rành nghề, hoặc người thợ học nghề, khi xoay một vòng dài, người ấy ý thức là đang xoay một vòng dài. Hoặc xoay một vòng ngắn, người ấy ý thức là đang xoay một vòng ngắn.

Cũng như người Tỳ Kheo thở vào một hơi thở dài, người ấy ý thức là đang thở vào một hơi thở dài. Thở ra một hơi thở dài, người ấy ý thức là đang thở ra một hơi thở dài. Thở vào một hơi thở ngắn, người ấy ý thức là đang thở vào một hơi thở ngắn. Thở ra một hơi thở ngắn, người ấy ý thức là đang thở ra một hơi thở ngắn.

Người Tỳ Kheo tự mình thực tập như sau:

Với sự chú tâm và ghi nhận rõ ràng về toàn hơi thở vào, người ấy thở vào. Với sự chú tâm và ghi nhận rõ ràng về toàn hơi thở ra, người ấy thở ra.

Với sự nỗ lực chú tâm về sự lắng dịu của toàn hơi thở vào, người ấy thở vào. Với sự nỗ lực chú tâm về sự lắng dịu của toàn hơi thở ra, người ấy thở ra.

Như thế, người Tỳ Kheo an trú trong sự quán niệm về thân thể nơi thân thể, hoặc bên trong thân thể, hoặc bên ngoài thân thể, hoặc bên trong và bên ngoài thân thể. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi nơi thân thể, hoặc quá trình hoại diệt nơi thân thể, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hoại diệt nơi thân thể. Hoặc người ấy quán niệm: “Có thân thể đây”, để phát khởi ý thức chánh niệm về thân thể. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm và cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người Tỳ Kheo quán niệm về thân thể nơi thân thể là như vậy.

Khi đi, người Tỳ Kheo ý thức là đang đi. Khi đứng, người Tỳ Kheo ý thức là đang đứng. Khi ngồi, người Tỳ Kheo ý thức là đang ngồi. Khi nằm, người Tỳ Kheo ý thức là đang nằm. Bất cứ thân thể đang ở trong tư thế nào, người Tỳ Kheo cũng đều ý thức về tư thế đó của thân thể.

Như thế, người Tỳ Kheo an trú trong sự quán niệm về thân thể nơi thân thể, hoặc bên trong thân thể, hoặc bên ngoài thân thể, hoặc bên trong và bên ngoài thân thể. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi nơi thân thể, hoặc quá trình hoại diệt nơi thân thể, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hoại diệt nơi thân thể. Hoặc người ấy quán niệm: “Có thân thể đây”, để phát khởi ý thức chánh niệm về thân thể. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm và cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người Tỳ Kheo quán niệm về thân thể nơi thân thể là như vậy.

Khi đi tới hay đi lui, người Tỳ Kheo ý thức rõ ràng về việc đó. Khi nhìn trước hay nhìn sau, cúi xuống hay đứng lên, người Tỳ Kheo ý thức rõ ràng về việc đó. Khi mặc áo cà sa hay mang bình bát, người Tỳ Kheo ý thức rõ ràng về việc đó. Khi ăn hay uống, nhai hay nếm, người Tỳ Kheo ý thức rõ ràng về việc đó. Khi đi đại tiện hay tiểu tiện, người Tỳ Kheo ý thức rõ ràng về việc đó. Khi đi hay đứng, nằm hay ngồi, ngủ hay thức, nói hay im lặng, người Tỳ Kheo cũng đều ý thức rõ ràng về việc đó.

Như thế, người Tỳ Kheo an trú trong sự quán niệm về thân thể nơi thân thể, hoặc bên trong thân thể, hoặc bên ngoài thân thể, hoặc bên trong và bên ngoài thân thể. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi nơi thân thể, hoặc quá trình hoại diệt nơi thân thể, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hoại diệt nơi thân thể. Hoặc người ấy quán niệm: “Có thân thể đây”, để phát khởi ý thức chánh niệm về thân thể. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm và cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người Tỳ Kheo quán niệm về thân thể nơi thân thể là như vậy.

Người Tỳ Kheo quán niệm về chính thân thể đây, từ gót chân trở lên và từ đỉnh đầu trở xuống, bao bọc bởi một lớp da và chứa đầy các loại bất tịnh. Thuộc về thân thể này: tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mạc, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bao tử, phẩn, óc, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, chất dầu, nước mắt, nước miếng, nước mũi, nước nhờn ở khớp xương, nước tiểu.

Này các vị, thí dụ có một cái bao đựng các loại hạt như gạo trắng, gạo đỏ, đậu xanh, đậu ngự, mè, lúa. Hai đầu bao có thể mở ra được. Một người có mắt tốt khi mở bao ra, thấy rõ các loại hạt chứa đựng trong đó. Đây là gạo trắng, gạo đỏ, đậu xanh, đậu ngự, mè, lúa.

Cũng như thế, khi quán niệm về chính thân thể đây, người Tỳ Kheo thấy được mọi thứ, từ gót chân trở lên và từ đỉnh đầu trở xuống, bao bọc bởi một lớp da và chứa đầy các loại bất tịnh. Thuộc về thân thể này: tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mạc, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bao tử, phẩn, óc, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, chất dầu, nước mắt, nước miếng, nước mũi, nước nhờn ở khớp xương, nước tiểu.

Như thế, người Tỳ Kheo an trú trong sự quán niệm về thân thể nơi thân thể, hoặc bên trong thân thể, hoặc bên ngoài thân thể, hoặc bên trong và bên ngoài thân thể. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi nơi thân thể, hoặc quá trình hoại diệt nơi thân thể, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hoại diệt nơi thân thể. Hoặc người ấy quán niệm: “Có thân thể đây”, để phát khởi ý thức chánh niệm về thân thể. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm và cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người Tỳ Kheo quán niệm về thân thể nơi thân thể là như vậy.

Lại nữa, trong bất cứ tư thế nào của thân thể, người Tỳ Kheo cũng quán niệm về các yếu tố cấu tạo thành thân thể. Trong thân thể đây, có yếu tố đất, có yếu tố nước, có yếu tố lửa, có yếu tố gió.

Như người đồ tể rành nghề, hoặc người thợ học nghề, khi giết một con bò, ngồi giữa ngã tư đường và cắt con bò ra thành nhiều phần. Người Tỳ Kheo cũng vậy, trong bất cứ tư thế nào của thân thể, người ấy cũng quán niệm về các yếu tố cấu tạo thành thân thể. Trong thân thể đây, có yếu tố đất, có yếu tố nước, có yếu tố lửa, có yếu tố gió.

Như thế, người Tỳ Kheo an trú trong sự quán niệm về thân thể nơi thân thể, hoặc bên trong thân thể, hoặc bên ngoài thân thể, hoặc bên trong và bên ngoài thân thể. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi nơi thân thể, hoặc quá trình hoại diệt nơi thân thể, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hoại diệt nơi thân thể. Hoặc người ấy quán niệm: “Có thân thể đây”, để phát khởi ý thức chánh niệm về thân thể. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm và cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người Tỳ Kheo quán niệm về thân thể nơi thân thể là như vậy.

Lại nữa, này các vị. Như thấy một xác chết bị bỏ nơi bãi tha ma, đã được một ngày, hai ngày, hoặc ba ngày, sình trương, thâm tím và thối rữa. Người Tỳ Kheo quán niệm về thân thể đây cũng vậy, cũng sẽ trở thành như thế, không có cách nào tránh thoát.

Rồi như thấy một xác chết bị bỏ nơi bãi tha ma, bị quạ, diều hâu, kên kên, chó sói rừng gặm xé, dòi bọ rúc rỉa. Người Tỳ Kheo quán niệm về thân thể đây cũng vậy, cũng sẽ trở thành như thế, không có cách nào tránh thoát.

Rồi như thấy một xác chết bị bỏ nơi bãi tha ma, chỉ còn lại bộ xương dính ít thịt và máu, các khớp xương còn gắn liền nhau bởi những sợi gân. Người Tỳ Kheo quán niệm về thân thể đây cũng vậy, cũng sẽ trở thành như thế, không có cách nào tránh thoát.

Rồi như thấy một xác chết bị bỏ nơi bãi tha ma, chỉ còn lại bộ xương không còn chút thịt nào nhưng vẫn còn dính chút máu, các khớp xương còn gắn liền nhau bởi những sợi gân. Người Tỳ Kheo quán niệm về thân thể đây cũng vậy, cũng sẽ trở thành như thế, không có cách nào tránh thoát.

Rồi như thấy một xác chết bị bỏ nơi bãi tha ma, chỉ còn lại bộ xương không còn chút thịt nào và cũng không còn chút máu nào, các khớp xương còn gắn liền nhau bởi những sợi gân. Người Tỳ Kheo quán niệm về thân thể đây cũng vậy, cũng sẽ trở thành như thế, không có cách nào tránh thoát.

Rồi như thấy một xác chết bị bỏ nơi bãi tha ma, chỉ còn lại đống xương rời rạc, chỗ này là xương tay, xương chân, chỗ kia là xương đùi, xương mông, xương sống, xương sọ. Người Tỳ Kheo quán niệm về thân thể đây cũng vậy, cũng sẽ trở thành như thế, không có cách nào tránh thoát.

Rồi như thấy một xác chết bị bỏ nơi bãi tha ma, chỉ còn lại đống xương trắng màu vỏ ốc. Người Tỳ Kheo quán niệm về thân thể đây cũng vậy, cũng sẽ trở thành như thế, không có cách nào tránh thoát.

Rồi như thấy một xác chết bị bỏ nơi bãi tha ma, chỉ còn lại đống xương khô đã hơn một năm. Người Tỳ Kheo quán niệm về thân thể đây cũng vậy, cũng sẽ trở thành như thế, không có cách nào tránh thoát.

Rồi như thấy một xác chết bị bỏ nơi bãi tha ma, chỉ còn lại đống xương đã rã nát thành tro bụi. Người Tỳ Kheo quán niệm về thân thể đây cũng vậy, cũng sẽ trở thành như thế, không có cách nào tránh thoát.

Như thế, người Tỳ Kheo an trú trong sự quán niệm về thân thể nơi thân thể, hoặc bên trong thân thể, hoặc bên ngoài thân thể, hoặc bên trong và bên ngoài thân thể. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi nơi thân thể, hoặc quá trình hoại diệt nơi thân thể, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hoại diệt nơi thân thể. Hoặc người ấy quán niệm: “Có thân thể đây”, để phát khởi ý thức chánh niệm về thân thể. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm và cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người Tỳ Kheo quán niệm về thân thể nơi thân thể là như vậy.

Người Tỳ Kheo quán niệm về cảm thọ nơi cảm thọ như thế nào?

Khi có cảm giác khoái lạc, người Tỳ Kheo ý thức là đang có cảm giác khoái lạc. Khi có cảm giác đau khổ, người Tỳ Kheo ý thức là đang có cảm giác đau khổ. Khi có cảm giác không khoái lạc cũng không đau khổ, người Tỳ Kheo ý thức là đang có cảm giác không khoái lạc cũng không đau khổ.

Khi có cảm giác khoái lạc về thể xác, người Tỳ Kheo ý thức là đang có cảm giác khoái lạc về thể xác. Khi có cảm giác khoái lạc về tinh thần, người Tỳ Kheo ý thức là đang có cảm giác khoái lạc về tinh thần.

Khi có cảm giác đau khổ về thể xác, người Tỳ Kheo ý thức là đang có cảm giác đau khổ về thể xác. Khi có cảm giác đau khổ về tinh thần, người Tỳ Kheo ý thức là đang có cảm giác đau khổ về tinh thần.

Khi có cảm giác không khoái lạc cũng không đau khổ về thể xác, người Tỳ Kheo ý thức là đang có cảm giác không khoái lạc cũng không đau khổ về thể xác. Khi có cảm giác không khoái lạc cũng không đau khổ về tinh thần, người Tỳ Kheo ý thức là đang có cảm giác không khoái lạc cũng không đau khổ về tinh thần.

Như thế, người Tỳ Kheo an trú trong sự quán niệm về cảm thọ nơi cảm thọ, hoặc bên trong cảm thọ, hoặc bên ngoài cảm thọ, hoặc bên trong và bên ngoài cảm thọ. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi nơi cảm thọ, hoặc quá trình hoại diệt nơi cảm thọ, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hoại diệt nơi cảm thọ. Hoặc người ấy quán niệm: “Có cảm thọ đây”, để phát khởi ý thức chánh niệm về cảm thọ. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm và cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người Tỳ Kheo quán niệm về cảm thọ nơi cảm thọ là như vậy.

Người Tỳ Kheo quán niệm về tâm thức nơi tâm thức như thế nào?

Khi tâm thức có tham dục, người Tỳ Kheo ý thức là tâm thức có tham dục. Khi tâm thức không có tham dục, người Tỳ Kheo ý thức là tâm thức không có tham dục.

Khi tâm thức có sân hận, người Tỳ Kheo ý thức là tâm thức có sân hận. Khi tâm thức không có sân hận, người Tỳ Kheo ý thức là tâm thức không có sân hận.

Khi tâm thức có si mê, người Tỳ Kheo ý thức là tâm thức có si mê. Khi tâm thức không có si mê, người Tỳ Kheo ý thức là tâm thức không có si mê.

Khi tâm thức có thu nhiếp, người Tỳ Kheo ý thức là tâm thức có thu nhiếp. Khi tâm thức có tán loạn, người Tỳ Kheo ý thức là tâm thức có tán loạn.

Khi tâm thức trở thành rộng lớn, người Tỳ Kheo ý thức là tâm thức trở thành rộng lớn. Khi tâm thức trở thành hạn hẹp, người Tỳ Kheo ý thức là tâm thức trở thành hạn hẹp.

Khi tâm thức đạt đến trạng thái cao nhất, người Tỳ Kheo ý thức là tâm thức đạt đến trạng thái cao nhất. Khi tâm thức không đạt đến trạng thái cao nhất, người Tỳ Kheo ý thức là tâm thức không đạt đến trạng thái cao nhất.

Khi tâm thức có định, người Tỳ Kheo ý thức là tâm thức có định. Khi tâm thức không có định, người Tỳ Kheo ý thức là tâm thức không có định.

Khi tâm thức có giải thoát, người Tỳ Kheo ý thức là tâm thức có giải thoát. Khi tâm thức không có giải thoát, người Tỳ Kheo ý thức là tâm thức không có giải thoát.

Như thế, người Tỳ Kheo an trú trong sự quán niệm về tâm thức nơi tâm thức, hoặc bên trong tâm thức, hoặc bên ngoài tâm thức, hoặc bên trong và bên ngoài tâm thức. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi nơi tâm thức, hoặc quá trình hoại diệt nơi tâm thức, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hoại diệt nơi tâm thức. Hoặc người ấy quán niệm: “Có tâm thức đây”, để phát khởi ý thức chánh niệm về tâm thức. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm và cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người Tỳ Kheo quán niệm về tâm thức nơi tâm thức là như vậy.

Người Tỳ Kheo quán niệm về đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức như thế nào?

Trước hết, người Tỳ Kheo quán niệm về năm hiện tượng ngăn che như đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức. Quán niệm bằng cách nào?

Khi có một niệm ái dục, người Tỳ Kheo ý thức là có một niệm ái dục. Khi không có một niệm ái dục, người Tỳ Kheo ý thức là không có một niệm ái dục.

Khi một niệm ái dục chưa phát sinh, nay bắt đầu phát sinh, người Tỳ Kheo ý thức về sự sinh khởi ấy. Khi một niệm ái dục đã phát sinh, nay đang hoại diệt, người Tỳ Kheo ý thức về sự hoại diệt ấy. Khi một niệm ái dục đã hoại diệt và không còn phát khởi lại nữa, người Tỳ Kheo cũng ý thức về điều đó.

Khi có một niệm sân hận, người Tỳ Kheo ý thức là có một niệm sân hận. Khi không có một niệm sân hận, người Tỳ Kheo ý thức là không có một niệm sân hận.

Khi một niệm sân hận chưa phát sinh, nay bắt đầu phát sinh, người Tỳ Kheo ý thức về sự sinh khởi ấy. Khi một niệm sân hận đã phát sinh, nay đang hoại diệt, người Tỳ Kheo ý thức về sự hoại diệt ấy. Khi một niệm sân hận đã hoại diệt và không còn phát khởi lại nữa, người Tỳ Kheo cũng ý thức về điều đó.

Khi có sự u mê và buồn ngủ, người Tỳ Kheo ý thức là có sự u mê và buồn ngủ. Khi không có sự u mê và buồn ngủ, người Tỳ Kheo ý thức là không có sự u mê và buồn ngủ.

Khi sự u mê và buồn ngủ chưa phát sinh, nay bắt đầu phát sinh, người Tỳ Kheo ý thức về sự sinh khởi ấy. Khi sự u mê và buồn ngủ đã phát sinh, nay đang hoại diệt, người Tỳ Kheo ý thức về sự hoại diệt ấy. Khi sự u mê và buồn ngủ đã hoại diệt và không còn phát khởi lại nữa, người Tỳ Kheo cũng ý thức về điều đó.

Khi có sự giao động bất an và hối hận, người Tỳ Kheo ý thức là có sự giao động bất an và hối hận. Khi không có sự giao động bất an và hối hận, người Tỳ Kheo ý thức là không có sự giao động bất an và hối hận.

Khi sự giao động bất an và hối hận chưa phát sinh, nay bắt đầu phát sinh, người Tỳ Kheo ý thức về sự sinh khởi ấy. Khi sự giao động bất an và hối hận đã phát sinh, nay đang hoại diệt, người Tỳ Kheo ý thức về sự hoại diệt ấy. Khi sự giao động bất an và hối hận đã hoại diệt và không còn phát khởi lại nữa, người Tỳ Kheo cũng ý thức về điều đó.

Khi có sự nghi ngờ, người Tỳ Kheo ý thức là có sự nghi ngờ. Khi không có sự nghi ngờ, người Tỳ Kheo ý thức là không có sự nghi ngờ.

Khi sự nghi ngờ chưa phát sinh, nay bắt đầu phát sinh, người Tỳ Kheo ý thức về sự sinh khởi ấy. Khi sự nghi ngờ đã phát sinh, nay đang hoại diệt, người Tỳ Kheo ý thức về sự hoại diệt đó. Khi sự nghi ngờ đã hoại diệt và không còn phát khởi lại nữa, người Tỳ Kheo cũng ý thức về điều đó.

Như thế, người Tỳ Kheo an trú trong sự quán niệm về đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức, hoặc bên trong đối tượng tâm thức, hoặc bên ngoài đối tượng tâm thức, hoặc bên trong và bên ngoài đối tượng tâm thức. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi nơi đối tượng tâm thức, hoặc quá trình hoại diệt nơi đối tượng tâm thức, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hoại diệt nơi đối tượng tâm thức. Hoặc người ấy quán niệm: “Có đối tượng tâm thức đây”, để phát khởi ý thức chánh niệm về đối tượng tâm thức. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm và cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người Tỳ Kheo quán niệm về năm hiện tượng ngăn che như đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức là như vậy.

Tiếp đó, người Tỳ Kheo quán niệm về sự bám víu vào năm uẩn như đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức. Quán niệm bằng cách nào?

Người Tỳ Kheo quán niệm như sau:

Đây là sắc. Đây là sự phát sinh của sắc. Đây là sự hoại diệt của sắc.

Đây là thọ. Đây là sự phát sinh của thọ. Đây là sự hoại diệt của thọ.

Đây là tưởng. Đây là sự phát sinh của tưởng. Đây là sự hoại diệt của tưởng.

Đây là hành. Đây là sự phát sinh của hành. Đây là sự hoại diệt của hành.

Đây là thức. Đây là sự phát sinh của thức. Đây là sự hoại diệt của thức.

Như thế, người Tỳ Kheo an trú trong sự quán niệm về đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức, hoặc bên trong đối tượng tâm thức, hoặc bên ngoài đối tượng tâm thức, hoặc bên trong và bên ngoài đối tượng tâm thức. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi nơi đối tượng tâm thức, hoặc quá trình hoại diệt nơi đối tượng tâm thức, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hoại diệt nơi đối tượng tâm thức. Hoặc người ấy quán niệm: “Có đối tượng tâm thức đây”, để phát khởi ý thức chánh niệm về đối tượng tâm thức. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm và cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người Tỳ Kheo quán niệm về sự bám víu vào năm uẩn như đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức là như vậy.

Tiếp đó, người Tỳ Kheo quán niệm về sáu giác quan và sáu đối tượng của giác quan như đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức. Quán niệm bằng cách nào?

Người Tỳ Kheo ý thức về mắt và đối tượng của mắt là hình sắc. Người ấy ý thức về những ràng buộc tạo nên do mắt và hình sắc. Người ấy ý thức về những ràng buộc chưa phát sinh, nay đang phát sinh, về những ràng buộc đã phát sinh, nay đang hoại diệt, về những ràng buộc đã hoại diệt và không còn phát khởi lại nữa.

Người Tỳ Kheo ý thức về tai và đối tượng của tai là âm thanh. Người ấy ý thức về những ràng buộc tạo nên do tai và âm thanh. Người ấy ý thức về những ràng buộc chưa phát sinh, nay đang phát sinh, về những ràng buộc đã phát sinh, nay đang hoại diệt, về những ràng buộc đã hoại diệt và không còn phát khởi lại nữa.

Người Tỳ Kheo ý thức về mũi và đối tượng của mũi là mùi hương. Người ấy ý thức về những ràng buộc tạo nên do mũi và mùi hương. Người ấy ý thức về những ràng buộc chưa phát sinh, nay đang phát sinh, về những ràng buộc đã phát sinh, nay đang hoại diệt, về những ràng buộc đã hoại diệt và không còn phát khởi lại nữa.

Người Tỳ Kheo ý thức về lưỡi và đối tượng của lưỡi là vị nếm. Người ấy ý thức về những ràng buộc tạo nên do lưỡi và vị nếm. Người ấy ý thức về những ràng buộc chưa phát sinh, nay đang phát sinh, về những ràng buộc đã phát sinh, nay đang hoại diệt, về những ràng buộc đã hoại diệt và không còn phát khởi lại nữa.

Người Tỳ Kheo ý thức về thân và đối tượng của thân là sự xúc chạm. Người ấy ý thức về những ràng buộc tạo nên do thân và sự xúc chạm. Người ấy ý thức về những ràng buộc chưa phát sinh, nay đang phát sinh, về những ràng buộc đã phát sinh, nay đang hoại diệt, về những ràng buộc đã hoại diệt và không còn phát khởi lại nữa.

Người Tỳ Kheo ý thức về ý và đối tượng của ý là tư tưởng. Người ấy ý thức về những ràng buộc tạo nên do ý và tư tưởng. Người ấy ý thức về những ràng buộc chưa phát sinh, nay đang phát sinh, về những ràng buộc đã phát sinh, nay đang hoại diệt, về những ràng buộc đã hoại diệt và không còn phát khởi lại nữa.

Như thế, người Tỳ Kheo an trú trong sự quán niệm về đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức, hoặc bên trong đối tượng tâm thức, hoặc bên ngoài đối tượng tâm thức, hoặc bên trong và bên ngoài đối tượng tâm thức. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi nơi đối tượng tâm thức, hoặc quá trình hoại diệt nơi đối tượng tâm thức, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hoại diệt nơi đối tượng tâm thức. Hoặc người ấy quán niệm: “Có đối tượng tâm thức đây”, để phát khởi ý thức chánh niệm về đối tượng tâm thức. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm và cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người Tỳ Kheo quán niệm về sáu giác quan và sáu đối tượng của giác quan như đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức là như vậy.

Tiếp đó, người Tỳ Kheo quán niệm về bảy yếu tố của sự giác ngộ như đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức. Quán niệm bằng cách nào?

Khi có chánh niệm, người Tỳ Kheo ý thức là có chánh niệm. Người ấy quán niệm: Tâm thức đang có chánh niệm. Khi không có chánh niệm, người Tỳ Kheo ý thức là không có chánh niệm. Người ấy ý thức về sự chánh niệm chưa phát sinh, nay đang phát sinh, về sự chánh niệm đã phát sinh, nay đang thành tựu.

Khi có trạch pháp, người Tỳ Kheo ý thức là có trạch pháp. Người ấy quán niệm: Tâm thức đang có trạch pháp. Khi không có trạch pháp, người Tỳ Kheo ý thức là không có trạch pháp. Người ấy ý thức về sự trạch pháp chưa phát sinh, nay đang phát sinh, về sự trạch pháp đã phát sinh, nay đang thành tựu.

Khi có tinh tấn, người Tỳ Kheo ý thức là có tinh tấn. Người ấy quán niệm: Tâm thức đang có tinh tấn. Khi không có tinh tấn, người Tỳ Kheo ý thức là không có tinh tấn. Người ấy ý thức về sự tinh tấn chưa phát sinh, nay đang phát sinh, về sự tinh tấn đã phát sinh, nay đang thành tựu.

Khi có hoan hỷ, người Tỳ Kheo ý thức là có hoan hỷ. Người ấy quán niệm: Tâm thức đang có hoan hỷ. Khi không có hoan hỷ, người Tỳ Kheo ý thức là không có hoan hỷ. Người ấy ý thức về sự hoan hỷ chưa phát sinh, nay đang phát sinh, về sự hoan hỷ đã phát sinh, nay đang thành tựu.

Khi có khinh an, người Tỳ Kheo ý thức là có khinh an. Người ấy quán niệm: Tâm thức đang có khinh an. Khi không có khinh an, người Tỳ Kheo ý thức là không có khinh an. Người ấy ý thức về sự khinh an chưa phát sinh, nay đang phát sinh, về sự khinh an đã phát sinh, nay đang thành tựu.

Khi có định, người Tỳ Kheo ý thức là có định. Người ấy quán niệm: Tâm thức đang có định. Khi không có định, người Tỳ Kheo ý thức là không có định. Người ấy ý thức về sự định tâm chưa phát sinh, nay đang phát sinh, về sự định tâm đã phát sinh, nay đang thành tựu.

Khi có buông xả, người Tỳ Kheo ý thức là có buông xả. Người ấy quán niệm: Tâm thức đang có buông xả. Khi không có buông xả, người Tỳ Kheo ý thức là không có buông xả. Người ấy ý thức về sự buông xả chưa phát sinh, nay đang phát sinh, về sự buông xả đã phát sinh, nay đang thành tựu.

Như thế, người Tỳ Kheo an trú trong sự quán niệm về đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức, hoặc bên trong đối tượng tâm thức, hoặc bên ngoài đối tượng tâm thức, hoặc bên trong và bên ngoài đối tượng tâm thức. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi nơi đối tượng tâm thức, hoặc quá trình hoại diệt nơi đối tượng tâm thức, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hoại diệt nơi đối tượng tâm thức. Hoặc người ấy quán niệm: “Có đối tượng tâm thức đây”, để phát khởi ý thức chánh niệm về đối tượng tâm thức. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm và cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người Tỳ Kheo quán niệm về bảy yếu tố của sự giác ngộ như đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức là như vậy.

Tiếp đó, người Tỳ Kheo quán niệm về bốn sự thật cao quý như đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức. Quán niệm bằng cách nào?

Khi sự kiện là đau khổ, người Tỳ Kheo quán niệm: Đây là đau khổ. Khi sự kiện là nguyên nhân đưa đến đau khổ, người Tỳ Kheo quán niệm: Đây là nguyên nhân đưa đến đau khổ. Khi sự kiện là sự chấm dứt đau khổ, người Tỳ Kheo quán niệm: Đây là sự chấm dứt đau khổ. Khi sự kiện là con đường đưa đến sự chấm dứt đau khổ, người Tỳ Kheo quán niệm: Đây là con đường đưa đến sự chấm dứt đau khổ.

Như thế, người Tỳ Kheo an trú trong sự quán niệm về đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức, hoặc bên trong đối tượng tâm thức, hoặc bên ngoài đối tượng tâm thức, hoặc bên trong và bên ngoài đối tượng tâm thức. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi nơi đối tượng tâm thức, hoặc quá trình hoại diệt nơi đối tượng tâm thức, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hoại diệt nơi đối tượng tâm thức. Hoặc người ấy quán niệm: “Có đối tượng tâm thức đây”, để phát khởi ý thức chánh niệm về đối tượng tâm thức. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm và cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người Tỳ Kheo quán niệm về bốn sự thật cao quý như đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức là như vậy.

Này các vị, người Tỳ Kheo nào thực hành bốn lãnh vực quán niệm trên trong bảy năm, người ấy có thể đạt được quả vị chánh trí ngay nơi đây và trong kiếp này. Hoặc nếu còn dư báo thì có thể đạt được quả vị không còn trở lại.

Này các vị, đừng nói gì đến bảy năm. Người nào thực hành bốn lãnh vực quán niệm trên trong sáu năm, năm năm, bốn năm, ba năm, hai năm, hoặc một năm, người ấy cũng có thể có khả năng đạt được quả vị chánh trí ngay nơi đây và trong kiếp này. Hoặc nếu còn dư báo thì có thể đạt được quả vị không còn trở lại.

Này các vị, đừng nói gì đến một năm. Người nào thực hành bốn lãnh vực quán niệm trên trong bảy tháng, sáu tháng, năm tháng, bốn tháng, ba tháng, hai tháng, một tháng, hoặc nửa tháng, người ấy cũng có thể có khả năng đạt được quả vị chánh trí ngay nơi đây và trong kiếp này. Hoặc nếu còn dư báo thì có thể đạt được quả vị không còn trở lại.

Này các vị, đừng nói gì đến nửa tháng. Người nào thực hành bốn lãnh vực quán niệm trên trong bảy ngày, người ấy cũng có thể có khả năng đạt được quả vị chánh trí ngay nơi đây và trong kiếp này. Hoặc nếu còn dư báo thì có thể đạt được quả vị không còn trở lại.

Đó là lý do tại sao mà tôi đã nói: Đây là con đường duy nhất để thanh tịnh thân tâm, vượt thắng phiền não, diệt trừ ưu khổ, đạt tới chánh đạo và chứng nhập Niết Nàn. Đó là con đường của bốn lãnh vực quán niệm.

Đức Phật đã nói như vậy. Các vị Tỳ Kheo hoan hỷ ghi nhận và thực tập theo lời Ngài.

oOo

DOWNLOAD

docx file
https://1drv.ms/w/s!ArEWxEW6PMFLgVCmkskqMwIAGoRg?e=V2rp2C

pdf file
https://1drv.ms/b/s!ArEWxEW6PMFLgVH3rTcgj56sPUZx?e=NVHWo0