Monday, April 22, 2019

Ó đen

Sáng tác: Trần Bảo Như
Hoà âm: Nguyên Ca
Tiếng Hát: Hoàng Linh

Friday, April 19, 2019

Kinh Bốn Lãnh Vực Quán Niệm


Kinh Bốn Lãnh Vực Quán Niệm
Dịch thuật: Trường Đinh
UK, sương mù già 2019


Tôi nghe như vầy. Một thuở nọ, Đức Phật đang cư trú ở Kammasadamma, một khu phố của người dân Kuru. Một hôm, Ngài gọi các vị khất sĩ: “Này các thầy”. Các vị khất sĩ đáp: “Thưa Đức Thế Tôn”. Đức Phật nói: “Này các vị, đây là con đường duy nhất để thanh tịnh thân tâm, vượt thắng phiền não, diệt trừ ưu khổ, đạt tới chánh đạo và chứng nhập Niết Bàn. Đó là con đường của bốn lãnh vực quán niệm”.

Bốn lãnh vực quán niệm là những lãnh vực gì?

Này các vị, người khất sĩ an trú trong sự quán niệm về thân thể nơi thân thể, tinh cần, ý thức rõ ràng và sáng suốt về thân thể, xa lìa mọi tham đắm và ưu tư đối với cuộc đời.

Người ấy an trú trong sự quán niệm về cảm thọ nơi cảm thọ, tinh cần, ý thức rõ ràng và sáng suốt về cảm thọ, xa lìa mọi tham đắm và ưu tư đối với cuộc đời.

Người ấy an trú trong sự quán niệm về tâm thức nơi tâm thức, tinh cần, ý thức rõ ràng và sáng suốt về tâm thức, xa lìa mọi tham đắm và ưu tư đối với cuộc đời.

Người ấy an trú trong sự quán niệm về đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức, tinh cần, ý thức rõ ràng và sáng suốt về đối tượng tâm thức, xa lìa mọi tham đắm và ưu tư đối với cuộc đời.

Này các vị, người khất sĩ an trú trong sự quán niệm về thân thể nơi thân thể như thế nào?

Người ấy tìm tới một khu rừng, đến một gốc cây, hoặc một nơi vắng vẻ, ngồi xuống trong tư thế kiết già, giữ thân hình ngay thẳng và thiết lập sự quán niệm trên đối tượng thiền định. Với ý thức rõ ràng và sáng suốt, người ấy thở vào. Với ý thức rõ ràng và sáng suốt, người ấy thở ra.

Thở vào một hơi thở dài, người ấy ý thức rằng: “Ta đang thở vào một hơi thở dài”. Thở ra một hơi thở dài, người ấy ý thức rằng: “Ta đang thở ra một hơi thở dài”.

Thở vào một hơi thở ngắn, người ấy ý thức rằng: “Ta đang thở vào một hơi thở ngắn”. Thở ra một hơi thở ngắn, người ấy ý thức rằng: “Ta đang thở ra một hơi thở ngắn”.

Người khất sĩ tự mình thực tập như sau:

Với ý thức rõ ràng về toàn hơi thở, ta thở vào. Với ý thức rõ ràng về toàn hơi thở, ta thở ra.

Với ý thức rõ ràng về sự lắng dịu nơi hơi thở, ta thở vào. Với ý thức rõ ràng về sự lắng dịu nơi hơi thở, ta thở ra.

Như người thợ tiện rành nghề, hoặc người thợ học nghề, khi xoay một vòng dài, người ấy ý thức rằng: “Ta đang xoay một vòng dài”. Hoặc xoay một vòng ngắn, người ấy ý thức rằng: “Ta đang xoay một vòng ngắn”.

Cũng như người khất sĩ thở vào một hơi thở dài, người ấy ý thức rằng: “Ta đang thở vào một hơi thở dài”. Thở ra một hơi thở dài, người ấy ý thức rằng: “Ta đang thở ra một hơi thở dài”.

Thở vào một hơi thở ngắn, người ấy ý thức rằng: “Ta đang thở vào một hơi thở ngắn”. Thở ra một hơi thở ngắn, người ấy ý thức rằng: “Ta đang thở ra một hơi thở ngắn”.

Người khất sĩ tự mình thực tập như sau:

Với ý thức rõ ràng về toàn hơi thở, ta thở vào. Với ý thức rõ ràng về toàn hơi thở, ta thở ra.

Với ý thức rõ ràng về sự lắng dịu nơi hơi thở, ta thở vào. Với ý thức rõ ràng về sự lắng dịu nơi hơi thở, ta thở ra.

Và như thế, người khất sĩ an trú trong sự quán niệm về thân thể nơi thân thể, hoặc bên trong thân thể, hoặc bên ngoài thân thể, hoặc bên trong và bên ngoài thân thể. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi nơi thân thể, hoặc quá trình hoại diệt nơi thân thể, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hoại diệt nơi thân thể. Hoặc người ấy quán niệm rằng: “Có thân thể đây”, như thế đủ để phát khởi sự quán chiếu và ý thức về thân thể. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm và cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người khất sĩ quán niệm về thân thể nơi thân thể là như vậy, thưa các vị.

Khi đi, người khất sĩ ý thức rằng: “Ta đang đi”. Khi đứng, người khất sĩ ý thức rằng: “Ta đang đứng”. Khi ngồi, người khất sĩ ý thức rằng: “Ta đang ngồi”. Khi nằm, người khất sĩ ý thức rằng: “Ta đang nằm”. Bất cứ thân thể đang ở trong tư thế nào, người khất sĩ cũng ý thức về tư thế đó.

Và như thế, người khất sĩ an trú trong sự quán niệm về thân thể nơi thân thể, hoặc bên trong thân thể, hoặc bên ngoài thân thể, hoặc bên trong và bên ngoài thân thể. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi nơi thân thể, hoặc quá trình hoại diệt nơi thân thể, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hoại diệt nơi thân thể. Hoặc người ấy quán niệm rằng: “Có thân thể đây”, như thế đủ để phát khởi sự quán chiếu và ý thức về thân thể. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm và cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người khất sĩ quán niệm về thân thể nơi thân thể là như vậy, thưa các vị.

Khi đi tới hay đi lui, người khất sĩ ý thức rõ ràng về việc đó. Khi nhìn trước hay nhìn sau, cúi xuống hay đứng lên, người khất sĩ ý thức rõ ràng về việc đó. Khi mặc áo cà sa hay mang bình bát, người khất sĩ ý thức rõ ràng về việc đó. Khi ăn hay uống, nhai hay nếm, người khất sĩ ý thức rõ ràng về việc đó. Khi đi đại tiện hay tiểu tiện, người khất sĩ ý thức rõ ràng về việc đó. Khi đi hay đứng, nằm hay ngồi, ngủ hay thức, nói hay im lặng, người khất sĩ ý thức rõ ràng về việc đó.

Và như thế, người khất sĩ an trú trong sự quán niệm về thân thể nơi thân thể, hoặc bên trong thân thể, hoặc bên ngoài thân thể, hoặc bên trong và bên ngoài thân thể. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi nơi thân thể, hoặc quá trình hoại diệt nơi thân thể, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hoại diệt nơi thân thể. Hoặc người ấy quán niệm rằng: “Có thân thể đây”, như thế đủ để phát khởi sự quán chiếu và ý thức về thân thể. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm và cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người khất sĩ quán niệm về thân thể nơi thân thể là như vậy, thưa các vị.

Người khất sĩ quán niệm về chính thân thể đây, từ gót chân trở lên và từ đỉnh đầu trở xuống, bao bọc bởi một lớp da và chứa đầy các loại bất tịnh. Thuộc về thân thể này: “tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, thức ăn trong bao tử, phân, óc, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ đặc, mỡ nước, nước mắt, nước miếng, nước mũi, nước nhờn ở khớp xương, nước tiểu”.

Này các vị, thí dụ có một cái bao đựng các loại hạt như gạo trắng, gạo đỏ, đậu xanh, đậu ngự, mè, lúa. Hai đầu bao có thể mở ra được. Một người có mắt tốt khi mở bao ra, thấy rõ các loại hạt chứa đựng trong đó. Đây là gạo trắng, gạo đỏ, đậu xanh, đậu ngự, mè, lúa.

Cũng như thế, khi quán niệm về chính thân thể đây, người khất sĩ thấy được mọi thứ, từ gót chân trở lên và từ đỉnh đầu trở xuống, bao bọc bởi một lớp da và chứa đầy các loại bất tịnh. Thuộc về thân thể này: “tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, thức ăn trong bao tử, phân, óc, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ đặc, mỡ nước, nước mắt, nước miếng, nước mũi, nước nhờn ở khớp xương, nước tiểu”.

Và như thế, người khất sĩ an trú trong sự quán niệm về thân thể nơi thân thể, hoặc bên trong thân thể, hoặc bên ngoài thân thể, hoặc bên trong và bên ngoài thân thể. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi nơi thân thể, hoặc quá trình hoại diệt nơi thân thể, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hoại diệt nơi thân thể. Hoặc người ấy quán niệm rằng: “Có thân thể đây”, như thế đủ để phát khởi sự quán chiếu và ý thức về thân thể. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm và cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người khất sĩ quán niệm về thân thể nơi thân thể là như vậy, thưa các vị.

Lại nữa, này các vị. Trong bất cứ tư thế nào của thân thể, người khất sĩ cũng quán niệm về những yếu tố cấu tạo thành thân thể. Trong thân thể này, có yếu tố đất, có yếu tố nước, có yếu tố lửa, có yếu tố gió. Như người đồ tể rành nghề, hoặc người thợ học nghề, khi giết một con bò, ngồi giữa ngã tư đường và cắt con bò ra thành nhiều phần. Người khất sĩ cũng vậy, trong bất cứ tư thế nào của thân thể, cũng quán niệm về những yếu tố cấu tạo thành thân thể. Trong thân thể này, có yếu tố đất, có yếu tố nước, có yếu tố lửa, có yếu tố gió.

Và như thế, người khất sĩ an trú trong sự quán niệm về thân thể nơi thân thể, hoặc bên trong thân thể, hoặc bên ngoài thân thể, hoặc bên trong và bên ngoài thân thể. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi nơi thân thể, hoặc quá trình hoại diệt nơi thân thể, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hoại diệt nơi thân thể. Hoặc người ấy quán niệm rằng: “Có thân thể đây”, như thế đủ để phát khởi sự quán chiếu và ý thức về thân thể. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm và cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người khất sĩ quán niệm về thân thể nơi thân thể là như vậy, thưa các vị.

Lại nữa, này các vị. Như khi thấy một xác chết bị bỏ nơi bãi tha ma, đã được một ngày, hai ngày, hoặc ba ngày, sình trương, thâm tím và thối rữa. Người khất sĩ quán niệm về thân thể đây cũng vậy, cũng sẽ trở thành như thế, không có cách nào tránh thoát.

Và như thế, người khất sĩ an trú trong sự quán niệm về thân thể nơi thân thể, hoặc bên trong thân thể, hoặc bên ngoài thân thể, hoặc bên trong và bên ngoài thân thể. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi nơi thân thể, hoặc quá trình hoại diệt nơi thân thể, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hoại diệt nơi thân thể. Hoặc người ấy quán niệm rằng: “Có thân thể đây”, như thế đủ để phát khởi sự quán chiếu và ý thức về thân thể. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm và cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người khất sĩ quán niệm về thân thể nơi thân thể là như vậy, thưa các vị.

Rồi như thấy một xác chết bị bỏ nơi bãi tha ma, bị quạ, diều hâu, kên kên và chó sói rừng gặm xé, dòi bọ rúc rỉa. Người khất sĩ quán niệm về thân thể đây cũng vậy, cũng sẽ trở thành như thế, không có cách nào tránh thoát.

Và như thế, người khất sĩ an trú trong sự quán niệm về thân thể nơi thân thể, hoặc bên trong thân thể, hoặc bên ngoài thân thể, hoặc bên trong và bên ngoài thân thể. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi nơi thân thể, hoặc quá trình hoại diệt nơi thân thể, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hoại diệt nơi thân thể. Hoặc người ấy quán niệm rằng: “Có thân thể đây”, như thế đủ để phát khởi sự quán chiếu và ý thức về thân thể. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm và cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người khất sĩ quán niệm về thân thể nơi thân thể là như vậy, thưa các vị.

Rồi như thấy một xác chết bị bỏ nơi bãi tha ma, chỉ còn lại bộ xương dính ít thịt và máu, các khớp xương còn gắn liền nhau bởi những sợi gân. Người khất sĩ quán niệm về thân thể đây cũng vậy, cũng sẽ trở thành như thế, không có cách nào tránh thoát.

Và như thế, người khất sĩ an trú trong sự quán niệm về thân thể nơi thân thể, hoặc bên trong thân thể, hoặc bên ngoài thân thể, hoặc bên trong và bên ngoài thân thể. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi nơi thân thể, hoặc quá trình hoại diệt nơi thân thể, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hoại diệt nơi thân thể. Hoặc người ấy quán niệm rằng: “Có thân thể đây”, như thế đủ để phát khởi sự quán chiếu và ý thức về thân thể. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm và cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người khất sĩ quán niệm về thân thể nơi thân thể là như vậy, thưa các vị.

Rồi như thấy một xác chết bị bỏ nơi bãi tha ma, chỉ còn lại bộ xương không còn chút thịt nào nhưng vẫn còn dính chút máu, các khớp xương còn gắn liền nhau bởi những sợi gân. Người khất sĩ quán niệm về thân thể đây cũng vậy, cũng sẽ trở thành như thế, không có cách nào tránh thoát.

Và như thế, người khất sĩ an trú trong sự quán niệm về thân thể nơi thân thể, hoặc bên trong thân thể, hoặc bên ngoài thân thể, hoặc bên trong và bên ngoài thân thể. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi nơi thân thể, hoặc quá trình hoại diệt nơi thân thể, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hoại diệt nơi thân thể. Hoặc người ấy quán niệm rằng: “Có thân thể đây”, như thế đủ để phát khởi sự quán chiếu và ý thức về thân thể. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm và cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người khất sĩ quán niệm về thân thể nơi thân thể là như vậy, thưa các vị.

Rồi như thấy một xác chết bị bỏ nơi bãi tha ma, chỉ còn lại bộ xương không còn chút thịt nào và cũng không còn chút máu nào, các khớp xương còn gắn liền nhau bởi những sợi gân. Người khất sĩ quán niệm về thân thể đây cũng vậy, cũng sẽ trở thành như thế, không có cách nào tránh thoát.

Và như thế, người khất sĩ an trú trong sự quán niệm về thân thể nơi thân thể, hoặc bên trong thân thể, hoặc bên ngoài thân thể, hoặc bên trong và bên ngoài thân thể. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi nơi thân thể, hoặc quá trình hoại diệt nơi thân thể, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hoại diệt nơi thân thể. Hoặc người ấy quán niệm rằng: “Có thân thể đây”, như thế đủ để phát khởi sự quán chiếu và ý thức về thân thể. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm và cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người khất sĩ quán niệm về thân thể nơi thân thể là như vậy, thưa các vị.

Rồi như thấy một xác chết bị bỏ nơi bãi tha ma, chỉ còn lại đống xương rời rạc, chỗ này là xương tay, xương chân, chỗ kia là xương đùi, xương mông, xương sống, đầu lâu. Người khất sĩ quán niệm về thân thể đây cũng vậy, cũng sẽ trở thành như thế, không có cách nào tránh thoát.

Và như thế, người khất sĩ an trú trong sự quán niệm về thân thể nơi thân thể, hoặc bên trong thân thể, hoặc bên ngoài thân thể, hoặc bên trong và bên ngoài thân thể. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi nơi thân thể, hoặc quá trình hoại diệt nơi thân thể, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hoại diệt nơi thân thể. Hoặc người ấy quán niệm rằng: “Có thân thể đây”, như thế đủ để phát khởi sự quán chiếu và ý thức về thân thể. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm và cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người khất sĩ quán niệm về thân thể nơi thân thể là như vậy, thưa các vị.

Rồi như thấy một xác chết bị bỏ nơi bãi tha ma, chỉ còn lại đống xương trắng màu vỏ ốc. Người khất sĩ quán niệm về thân thể đây cũng vậy, cũng sẽ trở thành như thế, không có cách nào tránh thoát.

Và như thế, người khất sĩ an trú trong sự quán niệm về thân thể nơi thân thể, hoặc bên trong thân thể, hoặc bên ngoài thân thể, hoặc bên trong và bên ngoài thân thể. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi nơi thân thể, hoặc quá trình hoại diệt nơi thân thể, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hoại diệt nơi thân thể. Hoặc người ấy quán niệm rằng: “Có thân thể đây”, như thế đủ để phát khởi sự quán chiếu và ý thức về thân thể. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm và cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người khất sĩ quán niệm về thân thể nơi thân thể là như vậy, thưa các vị.

Rồi như thấy một xác chết bị bỏ nơi bãi tha ma, chỉ còn lại đống xương khô đã hơn một năm. Người khất sĩ quán niệm về thân thể đây cũng vậy, cũng sẽ trở thành như thế, không có cách nào tránh thoát.

Và như thế, người khất sĩ an trú trong sự quán niệm về thân thể nơi thân thể, hoặc bên trong thân thể, hoặc bên ngoài thân thể, hoặc bên trong và bên ngoài thân thể. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi nơi thân thể, hoặc quá trình hoại diệt nơi thân thể, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hoại diệt nơi thân thể. Hoặc người ấy quán niệm rằng: “Có thân thể đây”, như thế đủ để phát khởi sự quán chiếu và ý thức về thân thể. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm và cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người khất sĩ quán niệm về thân thể nơi thân thể là như vậy, thưa các vị.

Rồi như thấy một xác chết bị bỏ nơi bãi tha ma, chỉ còn lại đống xương rã nát thành tro bụi. Người khất sĩ quán niệm về thân thể đây cũng vậy, cũng sẽ trở thành như thế, không có cách nào tránh thoát.

Và như thế, người khất sĩ an trú trong sự quán niệm về thân thể nơi thân thể, hoặc bên trong thân thể, hoặc bên ngoài thân thể, hoặc bên trong và bên ngoài thân thể. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi nơi thân thể, hoặc quá trình hoại diệt nơi thân thể, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hoại diệt nơi thân thể. Hoặc người ấy quán niệm rằng: “Có thân thể đây”, như thế đủ để phát khởi sự quán chiếu và ý thức về thân thể. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm và cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người khất sĩ quán niệm về thân thể nơi thân thể là như vậy, thưa các vị.

Này các vị, người khất sĩ an trú trong sự quán niệm về cảm thọ nơi cảm thọ như thế nào?

Khi có một cảm giác khoái lạc, người khất sĩ ý thức: “Ta đang có một cảm giác khoái lạc”. Khi có một cảm giác đau khổ, người khất sĩ ý thức: “Ta đang có một cảm giác đau khổ”. Khi có một cảm giác không khoái lạc cũng không đau khổ, người khất sĩ ý thức: “Ta đang có một cảm giác không khoái lạc cũng không đau khổ”.

Khi có một cảm giác khoái lạc về thể xác, người khất sĩ ý thức: “Ta đang có một cảm giác khoái lạc về thể xác”. Khi có một cảm giác khoái lạc về tinh thần, người khất sĩ ý thức: “Ta đang có một cảm giác khoái lạc về tinh thần”.

Khi có một cảm giác đau khổ về thể xác, người khất sĩ ý thức: “Ta đang có một cảm giác đau khổ về thể xác”. Khi có một cảm giác đau khổ về tinh thần, người khất sĩ ý thức: “Ta đang có một cảm giác đau khổ về tinh thần”.

Khi có một cảm giác không khoái lạc cũng không đau khổ về thể xác, người khất sĩ ý thức: “Ta đang có một cảm giác không khoái lạc cũng không đau khổ về thể xác”. Khi có một cảm giác không khoái lạc cũng không đau khổ về tinh thần, người khất sĩ ý thức: “Ta đang có một cảm giác không khoái lạc cũng không đau khổ về tinh thần”.

Và như thế, người khất sĩ an trú trong sự quán niệm về cảm thọ nơi cảm thọ, hoặc bên trong cảm thọ, hoặc bên ngoài cảm thọ, hoặc bên trong và bên ngoài cảm thọ. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi nơi cảm thọ, hoặc quá trình hoại diệt nơi cảm thọ, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hoại diệt nơi cảm thọ. Hoặc người ấy quán niệm rằng: “Có cảm thọ đây”, như thế đủ để phát khởi sự quán chiếu và ý thức về cảm thọ. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm và cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người khất sĩ quán niệm về cảm thọ nơi cảm thọ là như vậy, thưa các vị.

Này các vị, người khất sĩ an trú trong sự quán niệm về tâm thức nơi tâm thức như thế nào?

Khi tâm thức có tham dục, người khất sĩ ý thức là tâm thức mình có tham dục. Khi tâm thức không có tham dục, người khất sĩ ý thức là tâm thức mình không có tham dục.

Khi tâm thức có sân hận, người khất sĩ ý thức là tâm thức mình có sân hận. Khi tâm thức không có sân hận, người khất sĩ ý thức là tâm thức mình không có sân hận.

Khi tâm thức có si mê, người khất sĩ ý thức là tâm thức mình có si mê. Khi tâm thức không có si mê, người khất sĩ ý thức là tâm thức mình không có si mê.

Khi tâm thức có thu nhiếp, người khất sĩ ý thức là tâm thức mình có thu nhiếp. Khi tâm thức có tán loạn, người khất sĩ ý thức là tâm thức mình có tán loạn.

Khi tâm thức trở thành rộng lớn, người khất sĩ ý thức là tâm thức mình trở thành rộng lớn. Khi tâm thức trở thành hạn hẹp, người khất sĩ ý thức là tâm thức mình trở thành hạn hẹp.

Khi tâm thức đạt đến trạng thái cao nhất, người khất sĩ ý thức là tâm thức mình đạt đến trạng thái cao nhất. Khi tâm thức không đạt đến trạng thái cao nhất, người khất sĩ ý thức là tâm thức mình không đạt đến trạng thái cao nhất.

Khi tâm thức có định, người khất sĩ ý thức là tâm thức mình có định. Khi tâm thức không có định, người khất sĩ ý thức là tâm thức mình không có định.

Khi tâm thức có giải thoát, người khất sĩ ý thức là tâm thức mình có giải thoát. Khi tâm thức không có giải thoát, người khất sĩ ý thức là tâm thức mình không có giải thoát.

Và như thế, người khất sĩ an trú trong sự quán niệm về tâm thức nơi tâm thức, hoặc bên trong tâm thức, hoặc bên ngoài tâm thức, hoặc bên trong và bên ngoài tâm thức. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi nơi tâm thức, hoặc quá trình hoại diệt nơi tâm thức, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hoại diệt nơi tâm thức. Hoặc người ấy quán niệm rằng: “Có tâm thức đây”, như thế đủ để phát khởi sự quán chiếu và ý thức về tâm thức. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm và cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người khất sĩ quán niệm về tâm thức nơi tâm thức là như vậy, thưa các vị.

Này các vị, người khất sĩ an trú trong sự quán niệm về đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức như thế nào?

Trước hết, người khất sĩ quán niệm về năm hiện tượng ngăn che như đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức. Quán niệm bằng cách nào?

Khi có một niệm ái dục, người khất sĩ ý thức mình có một niệm ái dục. Khi không có một niệm ái dục, người khất sĩ ý thức mình không có một niệm ái dục.

Khi một niệm ái dục chưa phát sinh, nay bắt đầu phát sinh, người khất sĩ ý thức được sự sinh khởi ấy. Khi một niệm ái dục đã phát sinh, nay đang hoại diệt, người khất sĩ ý thức được sự hoại diệt ấy. Khi một niệm ái dục đã hoại diệt và không còn phát khởi lại nữa, người khất sĩ cũng ý thức được về điều đó.

Khi có một niệm sân hận, người khất sĩ ý thức mình có một niệm sân hận. Khi không có một niệm sân hận, người khất sĩ ý thức mình không có một niệm sân hận.

Khi một niệm sân hận chưa phát sinh, nay bắt đầu phát sinh, người khất sĩ ý thức được sự sinh khởi ấy. Khi một niệm sân hận đã phát sinh, nay đang hoại diệt, người khất sĩ ý thức được sự hoại diệt ấy. Khi một niệm sân hận đã hoại diệt và không còn phát khởi lại nữa, người khất sĩ cũng ý thức được về điều đó.

Khi có sự u mê và buồn ngủ, người khất sĩ ý thức mình có sự u mê và buồn ngủ. Khi không có sự u mê và buồn ngủ, người khất sĩ ý thức mình không có sự u mê và buồn ngủ.

Khi sự u mê và buồn ngủ chưa phát sinh, nay bắt đầu phát sinh, người khất sĩ ý thức được sự sinh khởi ấy. Khi sự u mê và buồn ngủ đã phát sinh, nay đang hoại diệt, người khất sĩ ý thức được sự hoại diệt ấy. Khi sự u mê và buồn ngủ đã hoại diệt và không còn phát khởi lại nữa, người khất sĩ cũng ý thức được về điều đó.

Khi có sự giao động bất an và hối hận, người khất sĩ ý thức mình đang có sự giao động bất an và hối hận. Khi không có sự giao động bất an và hối hận, người khất sĩ ý thức mình không có sự giao động bất an và hối hận.

Khi sự giao động bất an và hối hận chưa phát sinh, nay bắt đầu phát sinh, người khất sĩ ý thức được sự sinh khởi ấy. Khi sự giao động bất an và hối hận đã phát sinh, nay đang hoại diệt, người khất sĩ ý thức được sự hoại diệt ấy. Khi sự giao động bất an và hối hận đã hoại diệt và không còn phát khởi lại nữa, người khất sĩ cũng ý thức được về điều đó.

Khi có sự nghi ngờ, người khất sĩ ý thức mình đang có sự nghi ngờ. Khi không có sự nghi ngờ, người khất sĩ ý thức mình không có sự nghi ngờ.

Khi sự nghi ngờ chưa phát sinh, nay bắt đầu phát sinh, người khất sĩ ý thức được sự sinh khởi ấy. Khi sự nghi ngờ đã phát sinh, nay đang hoại diệt, người khất sĩ ý thức được sự hoại diệt đó. Khi sự nghi ngờ đã hoại diệt và không còn phát khởi lại nữa, người khất sĩ cũng ý thức được về điều đó.

Và như thế, người khất sĩ an trú trong sự quán niệm về đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức, hoặc bên trong đối tượng tâm thức, hoặc bên ngoài đối tượng tâm thức, hoặc bên trong và bên ngoài đối tượng tâm thức. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi nơi đối tượng tâm thức, hoặc quá trình hoại diệt nơi đối tượng tâm thức, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hoại diệt nơi đối tượng tâm thức. Hoặc người ấy quán niệm rằng: “Có đối tượng tâm thức đây”, như thế đủ để phát khởi sự quán chiếu và ý thức về đối tượng tâm thức. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm và cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người khất sĩ quán niệm về năm hiện tượng ngăn che như đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức là như vậy, thưa các vị.

Tiếp đó, người khất sĩ quán niệm về sự bám víu vào năm uẩn như đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức. Quán niệm bằng cách nào?

Người khất sĩ quán niệm như sau:

“Đây là hình sắc. Đây là sự phát sinh của hình sắc. Đây là sự hoại diệt của hình sắc.”

“Đây là cảm thọ. Đây là sự phát sinh của cảm thọ. Đây là sự hoại diệt của cảm thọ.”

“Đây là tri giác. Đây là sự phát sinh của tri giác. Đây là sự hoại diệt của tri giác.”

“Đây là sự vận hành tâm tư. Đây là sự phát sinh của sự vận hành tâm tư. Đây là sự hoại diệt của sự vận hành tâm tư.”

“Đây là ý thức phân biệt. Đây là sự phát sinh của ý thức phân biệt. Đây là sự hoại diệt của ý thức phân biệt.”

Và như thế, người khất sĩ an trú trong sự quán niệm về đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức, hoặc bên trong đối tượng tâm thức, hoặc bên ngoài đối tượng tâm thức, hoặc bên trong và bên ngoài đối tượng tâm thức. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi nơi đối tượng tâm thức, hoặc quá trình hoại diệt nơi đối tượng tâm thức, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hoại diệt nơi đối tượng tâm thức. Hoặc người ấy quán niệm rằng: “Có đối tượng tâm thức đây”, như thế đủ để phát khởi sự quán chiếu và ý thức về đối tượng tâm thức. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm và cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người khất sĩ quán niệm về sự bám víu vào năm uẩn như đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức là như vậy, thưa các vị.

Tiếp đó, người khất sĩ quán niệm về sáu giác quan và sáu đối tượng của giác quan như đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức. Quán niệm bằng cách nào?

Người khất sĩ ý thức về mắt, ý thức về đối tượng của mắt là hình sắc, ý thức về những ràng buộc tạo nên do mắt và hình sắc. Người ấy ý thức về những ràng buộc chưa phát sinh, nay đang phát sinh, về những ràng buộc đã phát sinh, nay đang hoại diệt, về những ràng buộc đã hoại diệt và không còn phát khởi lại nữa.

Người khất sĩ ý thức về tai, ý thức về đối tượng của tai là âm thanh, ý thức về những ràng buộc tạo nên do tai và âm thanh. Người ấy ý thức về những ràng buộc chưa phát sinh, nay đang phát sinh, về những ràng buộc đã phát sinh, nay đang hoại diệt, về những ràng buộc đã hoại diệt và không còn phát khởi lại nữa.

Người khất sĩ ý thức về mũi, ý thức về đối tượng của mũi là mùi hương, ý thức về những ràng buộc tạo nên do mũi và mùi hương. Người ấy ý thức về những ràng buộc chưa phát sinh, nay đang phát sinh, về những ràng buộc đã phát sinh, nay đang hoại diệt, về những ràng buộc đã hoại diệt và không còn phát khởi lại nữa.

Người khất sĩ ý thức về lưỡi, ý thức về đối tượng của lưỡi là vị nếm, ý thức về những ràng buộc tạo nên do lưỡi và vị nếm. Người ấy ý thức về những ràng buộc chưa phát sinh, nay đang phát sinh, về những ràng buộc đã phát sinh, nay đang hoại diệt, về những ràng buộc đã hoại diệt và không còn phát khởi lại nữa.

Người khất sĩ ý thức về thân, ý thức về đối tượng của thân là sự xúc chạm, ý thức về những ràng buộc tạo nên do thân và sự xúc chạm. Người ấy ý thức về những ràng buộc chưa phát sinh, nay đang phát sinh, về những ràng buộc đã phát sinh, nay đang hoại diệt, về những ràng buộc đã hoại diệt và không còn phát khởi lại nữa.

Người khất sĩ ý thức về tâm ý, ý thức về đối tượng của tâm ý là tư tưởng, ý thức về những ràng buộc tạo nên do tâm ý và tư tưởng. Người ấy ý thức về những ràng buộc chưa phát sinh, nay đang phát sinh, về những ràng buộc đã phát sinh, nay đang hoại diệt, về những ràng buộc đã hoại diệt và không còn phát khởi lại nữa.

Và như thế, người khất sĩ an trú trong sự quán niệm về đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức, hoặc bên trong đối tượng tâm thức, hoặc bên ngoài đối tượng tâm thức, hoặc bên trong và bên ngoài đối tượng tâm thức. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi nơi đối tượng tâm thức, hoặc quá trình hoại diệt nơi đối tượng tâm thức, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hoại diệt nơi đối tượng tâm thức. Hoặc người ấy quán niệm rằng: “Có đối tượng tâm thức đây”, như thế đủ để phát khởi sự quán chiếu và ý thức về đối tượng tâm thức. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm và cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người khất sĩ quán niệm về sáu giác quan và sáu đối tượng của giác quan như đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức là như vậy, thưa các vị.

Tiếp đó, người khất sĩ quán niệm về bảy yếu tố của sự giác ngộ như đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức. Quán niệm bằng cách nào?

Khi có yếu tố chánh niệm, người khất sĩ ý thức là mình đang có chánh niệm. Người ấy quán niệm rằng: “Tâm mình đang có chánh niệm”. Khi không có chánh niệm, người khất sĩ ý thức là mình không có chánh niệm. Người ấy ý thức về chánh niệm chưa phát sinh, nay đang phát sinh, về chánh niệm đã phát sinh, nay đang thành tựu.

Khi có yếu tố trạch pháp, người khất sĩ ý thức là mình đang có sự quyết trạch về các pháp. Người ấy quán niệm rằng: “Tâm mình đang có sự quyết trạch về các pháp”. Khi không có sự quyết trạch về các pháp, người khất sĩ ý thức là mình không có sự quyết trạch về các pháp. Người ấy ý thức về sự quyết trạch về các pháp chưa phát sinh, nay đang phát sinh, về sự quyết trạch về các pháp đã phát sinh, nay đang thành tựu.

Khi có yếu tố tinh tấn, người khất sĩ ý thức là mình đang có sự tinh tấn. Người ấy quán niệm rằng: “Tâm mình đang có sự tinh tấn”. Khi không có sự tinh tấn, người khất sĩ ý thức là mình không có sự tinh tấn. Người ấy ý thức về sự tinh tấn chưa phát sinh, nay đang phát sinh, về sự tinh tấn đã phát sinh, nay đang thành tựu.

Khi có yếu tố hoan hỷ, người khất sĩ ý thức là mình đang có sự hoan hỷ. Người ấy quán niệm rằng: “Tâm mình đang có sự hoan hỷ”. Khi không có sự hoan hỷ, người khất sĩ ý thức là mình không có sự hoan hỷ. Người ấy ý thức về sự hoan hỷ chưa phát sinh, nay đang phát sinh, về sự hoan hỷ đã phát sinh, nay đang thành tựu.

Khi có yếu tố khinh an, người khất sĩ ý thức là mình đang có sự khinh an. Người ấy quán niệm rằng: “Tâm mình đang có sự khinh an”. Khi không có sự khinh an, người khất sĩ ý thức là mình không có sự khinh an. Người ấy ý thức về sự khinh an chưa phát sinh, nay đang phát sinh, về sự khinh an đã phát sinh, nay đang thành tựu.

Khi có yếu tố định, người khất sĩ ý thức là mình đang có định. Người ấy quán niệm rằng: “Tâm mình đang có định”. Khi không có định, người khất sĩ ý thức là mình không có định. Người ấy ý thức về sự định tâm chưa phát sinh, nay đang phát sinh, về sự định tâm đã phát sinh, nay đang thành tựu.

Khi có yếu tố buông xả, người khất sĩ ý thức là mình đang có sự buông xả. Người ấy quán niệm rằng: “Tâm mình đang có sự buông xả”. Khi không có sự buông xả, người khất sĩ ý thức là mình không có sự buông xả. Người ấy ý thức về sự buông xả chưa phát sinh, nay đang phát sinh, về sự buông xả đã phát sinh, nay đang thành tựu.

Và như thế, người khất sĩ an trú trong sự quán niệm về đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức, hoặc bên trong đối tượng tâm thức, hoặc bên ngoài đối tượng tâm thức, hoặc bên trong và bên ngoài đối tượng tâm thức. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi nơi đối tượng tâm thức, hoặc quá trình hoại diệt nơi đối tượng tâm thức, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hoại diệt nơi đối tượng tâm thức. Hoặc người ấy quán niệm rằng: “Có đối tượng tâm thức đây”, như thế đủ để phát khởi sự quán chiếu và ý thức về đối tượng tâm thức. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm và cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người khất sĩ quán niệm về bảy yếu tố của sự giác ngộ như đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức là như vậy, thưa các vị.

Tiếp đó, người khất sĩ quán niệm về bốn sự thật cao quý như đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức. Quán niệm bằng cách nào?

Khi sự kiện là đau khổ, người khất sĩ quán niệm: “Đây là đau khổ”. Khi sự kiện là nguyên nhân đưa đến đau khổ, người khất sĩ quán niệm: “Đây là nguyên nhân đưa đến đau khổ”. Khi sự kiện là sự chấm dứt đau khổ, người khất sĩ quán niệm: “Đây là sự chấm dứt đau khổ”. Khi sự kiện là con đường đưa đến sự chấm dứt đau khổ, người khất sĩ quán niệm: “Đây là con đường đưa đến sự chấm dứt đau khổ”.

Và như thế, người khất sĩ an trú trong sự quán niệm về đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức, hoặc bên trong đối tượng tâm thức, hoặc bên ngoài đối tượng tâm thức, hoặc bên trong và bên ngoài đối tượng tâm thức. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi nơi đối tượng tâm thức, hoặc quá trình hoại diệt nơi đối tượng tâm thức, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hoại diệt nơi đối tượng tâm thức. Hoặc người ấy quán niệm rằng: “Có đối tượng tâm thức đây”, như thế đủ để phát khởi sự quán chiếu và ý thức về đối tượng tâm thức. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm và cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người khất sĩ quán niệm về bốn sự thật cao quý như đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức là như vậy, thưa các vị.

Này các vị, người khất sĩ nào thực hành được bốn lãnh vực quán niệm trên trong bảy năm, người ấy có thể đạt được quả vị chánh trí ngay nơi đây và trong kiếp này. Hoặc nếu còn dư báo thì cũng sẽ đạt được quả vị không còn trở lại.

Này các vị, đừng nói gì đến bảy năm. Người nào thực hành được bốn lãnh vực quán niệm trên trong sáu năm, năm năm, bốn năm, ba năm, hai năm, hoặc một năm, người ấy cũng có thể có khả năng đạt được quả vị chánh trí ngay nơi đây và trong kiếp này. Hoặc nếu còn dư báo thì cũng sẽ đạt được quả vị không còn trở lại.

Này các vị, đừng nói gì đến một năm. Người nào thực hành được bốn lãnh vực quán niệm trên trong bảy tháng, sáu tháng, năm tháng, bốn tháng, ba tháng, hai tháng, một tháng, hoặc nửa tháng, người ấy cũng có thể có khả năng đạt được quả vị chánh trí ngay nơi đây và trong kiếp này. Hoặc nếu còn dư báo thì cũng sẽ đạt được quả vị không còn trở lại.

Này các vị, đừng nói gì đến nửa tháng. Người nào thực hành được bốn lãnh vực quán niệm trên trong một tuần, người ấy cũng có thể có khả năng đạt được quả vị chánh trí ngay nơi đây và trong kiếp này. Hoặc nếu còn dư báo thì cũng sẽ đạt được quả vị không còn trở lại.

Đó là lý do tại sao mà tôi đã nói: “Đây là con đường duy nhất để thanh tịnh thân tâm, vượt thắng phiền não, diệt trừ ưu khổ, đạt tới chánh đạo và chứng nhập Niết Nàn. Đó là con đường của bốn lãnh vực quán niệm”.

Đức Phật đã nói như vậy. Các vị khất sĩ hoan hỷ ghi nhận và thực tập theo lời Ngài.



Saturday, April 13, 2019

Vuốt Mặt

Nhạc và lời: Anh Việt Thu
Guitar cover: Đức Duy

Trình bày: Anh Thư
Anh Thư


Friday, April 12, 2019

BUỒN NGÀY MƯA

Ngày mưa nghe trong lòng chợt buồn
Nhớ em một chiều bên công viên
Nhìn người đi sóng vai chung bước
Tái tê lòng nỗi nhớ bâng khuâng

Ngày mưa xa rồi từ cuối đông
Giọt lệ vương vấn áo em hồng
Bên người đêm tân hôn ngày ấy
Bây giờ thì đã qua mười năm

Em ơi, hồn tôi nhớ âm thầm
Em ơi, nỗi niềm đau biết không
Đi qua trần gian kiếp người nữa
Cũng không thể nào tìm thấy em...

Em ơi, giọt nước mắt đắng cay
Ướt môi hồng giấc ngủ chưa hay
Nhắm mắt đã thôi đời con gái
Còn gì vương vấn tình phôi phai

Ngày mưa qua cuộc đời trả vay
Tóc trắng một lần nữa trên vai
Bay theo gió ngàn xa thăm thẳm
Qua kiếp người chắng có ai hay...

Nguyễn Chí Hiệp
13.04.2019

Mái tóc dạ hương

Thơ: Đinh Hùng
Nhạc: Nguyễn Hiền
Guitar cover: Đức Duy

Trình bày: Anh Thư

Anh Thư






Wednesday, April 10, 2019

SẦU ĐÔNG

Mùa đông em đi về xứ người
Bỏ lại nơi đây mối tình tôi
Ngày xa vắng đêm mỏi mòn nhớ
Đời buồn như những áng mây trôi

Mùa đông thương nhớ bao giờ nguôi
Vì em đã cách biệt phương trời
Suốt canh dài miền trăng lưu luyến
Giấc ngủ nào cõi buồn chơi vơi

Từ muôn kiếp đôi ta gặp gỡ
Để trần gian này đã thấy em
Bao điều ước mơ xưa để lại
Mà vì sao ngăn cách chúng mình

Bây giờ năm tháng đời hư không
Em đi qua xa mãi tuổi hồng
Tôi thì đắm hồn trong dĩ vãng
Để thấy mắt môi nào ngày xưa

Mùa đông hơi lạnh đến rã rời
Phố đêm nay từng bước lẻ loi
Đường hoang vắng biết chờ ai nữa
Hun hút ngõ về một mình tôi...

Nguyễn Chí Hiệp
10.4.2019

Ngày Tháng Tư

ngày tháng Tư có buồn không em hỡi
bao năm rồi nơi xứ lạ lưu vong
từng sợi tóc bạc màu trong tủi hận
mà lệ hờn vẫn chảy như biển sông

ngày tháng Tư em có bao giờ nhớ
những người cha trong ngục tối đọa đầy
mẹ khóc thương đàn con miền khổ ải
đời nhiễu nhương như lật ngửa bàn tay

ngày tháng Tư trời giăng đầy mưa lệ
trên mắt môi những kẻ sống lạc loài
đâu quê hương mà tự hào năm tháng
giữa biển đời là phận kiếp lênh đênh

ngày tháng Tư nhòa đen cùng bóng tối
ánh trăng buồn cũng nhỏ lệ cảm thương
làm ướt đẫm con đường mong manh lối
trước cuộc đời quê mẹ quá xa xôi

ngày tháng Tư vẫn còn đây mộng dữ
buốt tim đau khi khóc nhớ quê nhà
tìm tự do để làm người xa xứ
ôi thuyền nhân, tên gọi bởi chính mình

ngày tháng Tư giọt sầu rơi chất ngất
nhìn quê nhà đã chia cắt biển Đông
mảnh đất xưa ngày mai còn hay mất
Việt Nam ơi, xin thương nhớ ngàn đời

Trường Đinh
UK, sương mù già 2019




NHẠT NHOÀ KÝ ỨC


Có một mảnh trời mênh mông_trống rỗng
có một khoảng đời tâm sự ngủ trưa
có một con đường đá truồng như nhộng
có một người ngồi nhìn tim nắng mưa
*
Chút chút xôn xao với đầy câu hỏi
hôm qua tại sao trời lại nhiều mây?
tại sao chim ngàn nhớ rừng vời vợi
và đứa đa sầu duy nhất là tôi?
*
Có những dễ thương trong tôi mọt nhấm
có một góc hồn bụi phủ quanh năm
có một hứng thi ý_lời mọc nấm
chữ nghĩa yên bình xưa chừ phù vân
*
Tôi ngồi ôn lại, hồi hương dĩ vãng
dù giờ nhạt nhoà hình bóng yêu xưa
ký ức thiên nhai sâu trong thăm thẳm
không nhớ nổi mình đang thức...hay mơ?

đông hương

Monday, April 8, 2019

Giấc mơ loài người

Một ngày tôi mơ, mơ thấy lòai người
Người người quanh tôi, bỗng tắt nụ cười
Nhìn lại chung quanh, tôi thấy tôi thôi
Điên điên khùng khùng, giống con đười ươi

Từng ngày tôi đi, đi kiếm bạn bè
Bạn bè quanh tôi, đã mất từng người
Nhìn lại thân tôi, như xác ma trơi
Trôi theo dòng đời, tháng năm buồn vui

Hãy cởi lòng để đời sống vui
Hỡi bạn bè còn lại những ai
Đường ta đi như cơn gió mới
Vuốt ve cho đời, thơm những nắng mai

Hãy mỉm cười nhìn đời sáng tươi
Những nhọc nhằn từ biệt nhé thôi
Nhìn nhau vui bao nhiêu nét mới
Ấm no cho đời thêm những hoa tươi

Hàng ngày tôi xin, xin Chúa nhìn lại
Phật tọa trên cao, sao cứ ngoảnh đầu
Chẳng nhìn anh em, cấu xé nhau đau
Đau cho đồng lọai, nỗi đau nào vơi

Và này tôi ơi, tôi có cuộc đời
Dù người quanh tôi, sống quá hẹp hòi
Buồn buồn vui vui, tôi hát tôi chơi
Ô hay đới người, giấc mơ mà thôi

Nguyễn Hải

Sunday, April 7, 2019

SỰ SỐNG

SỰ SỐNG

Nơi giông gió, một mình em đứng đó
Hỡi Yggdrasil nhỏ bé giữa đất trời
Nơi cằn khô, sỏi đá chẳng buồn trôi
Em kiêu hãnh, vươn mình trong định kiến

Vào mùa chay thuần thành và linh khiết
Đón bụi tro giữa bão tố cuộc đời
Em nghiêng mình, duyên dáng nở nụ cười
Nảy chồi xanh, vươn mình lên đón nắng

Đứng nơi đây, xả thân mình lẳng lặng
Lắng nghe hồn trời và đất giao thoa
Vạn vật hát khúc hiệp hòa từ ái
Đón hơi thở hân hoan đầy sự sống

Em nghiêng mình, cúi đầu chào cõi mộng
Những diễn suy, những phân định kiếp người
Rồi cũng sẽ bụi tro về Đất Mẹ
Lại cùng em đón ánh nắng xa khơi

Bao ngày nữa, em phục sinh tuần thánh lễ
Hóa huy hoàng, đâm gốc rễ chở che
Bao năm sau em đón gió đi về
Dưới tán lá, bao trùm bao tri thức

Giang tay ôm sinh linh và vạn vật
Em cấp nguồn sống đến muôn nơi
Màu lá xanh phục hiện lại kiếp người
Từng chiếc lá sẽ viết nên huyền thoại

Sóng xô bờ, vẫn dịu dàng từ ái
Quỳ dưới chân, nâng đỡ dáng em ngoan
Rồi mai đây em là những bậc thang
Đưa nhân loại đến huy hoàng lịch sử

Chỉ là em, chồi cây xanh bé nhỏ
Giữa bão giông, vẫn kiên định chính mình
Là sự sống giữa muôn ngàn chứng linh
Hồn tri thức, là muôn đời bất diệt

Trầm Nhi
7 April, 2019

Friday, April 5, 2019

KHI

KHI

Khi nắng đổ, cháy vòm trời khô hạn
Hồn lạc người nơi gió lộng mông mênh
Có thấy không, bóng mây vỡ điềm nhiên
Ôm bão lửa, cả tinh cầu rực cháy

Khi hoàng hôn bao trùm hết cả thảy
Những vu vơ, những chấp nhặt mơ hồ
Hương cỏ thơm cũng là để bâng quơ
Ngày chớm xuân trót dại khờ...nắng đổ!

Khi lặng thinh ôm tim người thổ lộ
Lời thật lòng chẳng mấy độ được hay
Nắng cháy bùng sao lạc mất bàn tay
Chiều bão lửa uống men say vạn vật

Đỉnh thời gian nắng tìm ngày sắp mất
Hồn ngại ngùng hồn lại đứng bâng khuâng
Chút nữa thôi, ráng chiều đỏ thẹn thùng
Cũng rồi tắt...như hồn ai chết lịm

Khi hoàng hôn mang bao điều màu nhiệm
Hong trời chiều bằng vạt nắng thời gian
Anh nghe không lời gió núi băng ngàn
Như kể lại một thời xưa oanh liệt

Chị nghe không lời tình si tha thiết
Thuở học trò đuổi bắt vướng cỏ mây
Thuở dại khờ mực tím loang đầy tay
Màu nhung nhớ một thời xa li biệt

Em thấy không, ước mơ nào bất diệt
Cháy bùng lên theo ngọn lửa huy hoàng
Phút giao thời nơi thiên địa hỗn mang
Ai rạng rỡ, ai ngỡ ngàng đứng đó

Tay vòng quanh, ôm mặt trời rất đỏ
Có mộng mơ, nuối tiếc của một thời
Tai chợt nghe khúc nhạc gió nổi trôi
Để nỗi nhớ tan dần theo vạt nắng

Khi hoàng hôn nhuộm lên màu tóc trắng
Con tim cằn lại loạn nhịp mấy khi
Rồi nhắm mắt nghe tiếng gió thầm thì
Thân tứ đại, cũng là bụi hoen mi

Và rồi chiều cũng lại đi
Và ta rồi cũng còn chi mà buồn...

Trầm Nhi
5 April 2019