Tuesday, August 24, 2021

Gió Bấc

 

Chiều ấu thơ, gió mùa Đông Bắc thổi

Tóc em bay cùng hoa nắng vàng rơi

Đôi chân đất theo dòng mương len lỏi

Mặn phù sa, những dấu bước vào đời 


Cọng rau dệu ngát xanh miền quê Mẹ

Tuổi mây hồng, áo hoa phượng học trò

Ai nắm tay, hát ca lời ru khẽ

Để giờ đây, em nhớ mãi câu hò


Cá lóc kho, hạt tiêu cay bờ mắt

Bếp lửa hồng, chén cơm trắng quê hương

Anh đi xa có nhớ chiều gió bấc

Có bao giờ nhìn lại chút vấn vương


Em miệt vườn cả sáng chiều giong ruổi

Bước tảo tần mưa nắng sạm làn da

Dáng hao gầy, gió ru buồn dốc tuổi

Ánh trăng về, soi bóng lẻ quê nhà


Mây tím buồn, hỏi người xưa có nhớ

Gió bấc này đã là bao nhiêu năm

Nẻo bên kia, từng bước chân xa vợi

Chiều bên này vẫn là gió âm thầm


Bữa cơm khuya chờ ai về ghé lại

Tách trà sen chia ấm mấy canh sầu

Vẫn là thương, níu theo người đi mãi

Nỗi hoài mong, năm tháng lạnh mưa ngâu


Trường Đinh

UK, sương mù già 2021


+ Gió Bấc: Còn gọi là gió mùa Đông Bắc, hoặc là cơn gió mùa Đông, vì ngọn gió thổi đến từ phương Bắc và vào khoảng mùa Đông cuối năm. Thỉnh thoảng, gió bấc len lỏi với những cơn mưa phùn nặng hạt làm lạnh buốt bờ vai. Gió Đông Bắc, xuất xứ đến từ miền Trung Á và xứ Xibia, đưa về miền xích đạo Việt Nam những cơn lạnh gió chướng. Ngọn gió mùa Đông Bắc rất dễ gây cảm mạo cho những người sức khỏe yếu. Gió bấc thổi về, khoảng từ tháng 11 cuối năm cho đến tháng 4 năm sau. Những cơn gió bấc mạnh có thể làm đắm thuyền bè và gây ra những trận bão giông mưa đá mù trời.


+ Mưa Ngâu: Tên gọi cho những cơn mưa tầm tả vào tháng 7. Sự tích kể rằng, nàng Chức Nữ và chàng Ngưu Lang yêu nhau thắm thiết đêm ngày đã chểnh mảng công việc của Trời giao, nàng thì quên dệt vải, chàng thì quên chăn trâu. Nên bị Trời đọa xuống bờ sông Ngâu, mỗi người ở một bên bờ, và mỗi năm chỉ được gặp nhau một lần vào ngày 7 tháng 7 âm lịch. Vào ngày ấy, mưa dầm dề ray rứt, đó là nước mắt đau thương của Ngưu Lang và Chức Nữ khóc cho chuyện tình mình.


+ Rau Dệu: Loài cây cọng nhỏ, xanh mướt lá, còn gọi là rau rệu, hoặc rau diếp bò, mọc hoang quanh năm bên các đầm ao và mương rạch, hoặc nằm dọc theo các bãi sông bờ ruộng, hoặc các luống đất ẩm ở miền Tây Nam Bộ. Rau dệu cùng một họ với rau giền (còn gọi là rau dền), có nhiều hoa nhỏ màu trắng trổ ra từ các nách lá. Ngọn đầu cây và các lá non dùng làm rau ở các vùng miền quê dân dã Việt Nam. Rau có thể luộc chấm chao ớt, xào lẹ với trứng, hoặc nấu canh cá lóc tép đồng, có hương vị mộc mạc nhưng lại rất đậm đà chốn miệt vườn miệt thứ. Theo Đông y và y học Ấn Độ, rau dệu có vị ngọt tính mát, dùng chế biến thảo dược để giúp chống viêm sốt, lợi tiểu, giải nhiệt, lọc máu, tiêu chảy và cũng dùng để điều trị các chứng bệnh nghiêm trọng khác như viêm vú, kiết lỵ, mẩm ngứa, nấm ngoài da. 


+ Tảo Tần: Còn nói là Tần Tảo, là 2 loại cây rau ở miền đồng quê, rau Tảo và rau Tần. Theo văn hóa phong tục Trung Quốc thời cổ, vào mỗi dịp cúng tế ông bà tổ tiên, người phụ nữ trong gia đình tìm hái 2 loại rau này làm cỗ cúng. Để tìm được 2 loại rau Tảo và rau Tần thì phải rất cực nhọc và chịu khó. Rau Tần thì mọc nổi bập bềnh trên mặt nước dọc theo các khe suối, còn rau Tảo thì nằm tụ khuất ở dưới đáy nước sâu. Vì vậy, ý của 2 chữ Hán Việt "Tảo Tần" là nói về sự đảm đang vất vả, siêng năng chăm chút, chịu thương chịu khó, bồng bế thu vén trước sau của người phụ nữ trong gia đình. Chữ Tảo Tần, là để ca ngợi "người vợ hiền" "con dâu thảo" của người xưa và nay. Nguyên gốc của 2 chữ Tảo Tần xuất xứ từ bài thơ Thái Tần Thái Tảo trong Kinh Thi của đức Khổng Tử: "Đi hái cây rau Tần, ở bờ khe phía nam. Đi hái cây rau Tảo, ở lạch nước bên kia". Ở Việt Nam, 2 chữ Tảo Tần cũng được dùng nhiều trên phạm trù văn thơ. Như trong truyện Phạm Tải và Ngọc Hoa: "Sớm khuya chăm việc tảo tần, Thờ cha kính mẹ đôi lần chẳng sai". Hoặc trong truyện thơ nôm Bích Câu Kỳ Ngộ: "Đã trong tần tảo lại ngoài ty ca" (Ty ca: tiếng dây tơ đàn, tiếng hát ca).





No comments:

Post a Comment