Thursday, October 18, 2018

Trên Những Miền Quê Hương (phần 4, đoạn 163 đến đoạn 210)

bài thơ đăng trên báo in từng kỳ, Tạp Chí Cỏ Thơm (Virginia USA).

163
trên sông Hoài, thả ngọn đèn mơ ước
được gần em suối tóc mượt mà bay
hương thoảng ấy bên tách trà sen ấm
rằm Hội An, em đẹp nhất đêm này

164
từng giọt thương, An Bàng long lanh nhớ
đêm dịu dàng nhẹ trải trên thảm hoa
chiếc đèn lồng giữa trời linh lung ánh
tình quê hương theo trăng gió hát ca

165
đêm huyền diệu vì có em chờ đón
nụ hôn nồng trên bờ tóc em ngoan
Lai Viễn Kiều cũng lên đèn soi bóng
đợi em về, thăm hỏi nẻo chứa chan

166
kìa xa xa, mái nhà xưa Tấn Ký
đèn hoa đăng chiếu sáng lại yêu thương
áo em bay theo cánh diều mộng mị
trăm năm về, vẫn nhớ mãi Hội An

167
nắng chiều rơi linh lung làn Thác Trắng
đảo Lý Sơn với sóng nước bềnh bồng
thuở xa xưa đã bao mùa nhung nhớ
anh trở về nơi đất Mẹ mênh mông

168
núi Cà Đam có rừng cây xanh lá
gió dạt dào một cõi nhớ xa xăm
tìm đến em để luyến thương ngày tháng
chuyện chúng mình, trao mộng ước trăm năm

169
làng Thiên Xuân anh về ghi dấu lại
nét hương xưa còn đấy dưới nắng chiều
tình cũng thế, xanh ươm mùa hoa trái
nhánh hẹn thề trong tim nhớ còn say

170
anh khẽ bước theo cánh tình trao gởi
thành Châu Sa có hình bóng đợi chờ
biển Sa Huỳnh mặn nồng thêm nỗi nhớ
sóng yêu thương dưới ánh nắng dịu dàng

171
anh vẽ lại một khung trời Quảng Ngãi
trong mắt thơ, em là biển Mỹ Khê
bởi quê nhà là nỗi niềm chan chứa
thẫn thờ anh, cõi mộng bước theo về

172
mình yêu nhau như núi rừng Thiên Ấn
cánh hoa thơ xin gởi lại lời chào
giọt lệ thương giữa dòng sông Trà Khúc
kỷ niệm về trên bến nhớ hôm nao

173
Cù Lao Chàm chiều nay còn hương thắm
gió thoảng về từng giọt nhớ nghiêng chao
bên Suối Tình, ta cùng trao hẹn ước
những rì rào sông nước nói yêu nhau

174
tình ngạt ngào giữa tim yêu chan chứa
giấc mơ hồng, vẽ lại đóa thơ ngây
mơ màng nhớ, Tiên Bích La hương nắng
giếng cổ Chăm, ta uống ngụm nước đầy

175
về Kon Tum ngắm nhìn ngôi nhà Gỗ
chiếc cầu treo làm nhớ mãi Kon Klor
ngồi lắt lẻo trên lưng đàn bò trắng
gõ Cồng Chiêng, ngà ngật đến Đắk Tô

176
em yêu hỡi, đong đưa tình mây gió
trên lưng voi, tay nắm lấy bàn tay
đến Đắk La rồi Măng Đen hoang dã
ghè rượu Cần ngất ngưởng buổi chiều say

177
anh vẫn nhớ về em từng đêm mộng
khu phố xưa, miền đất đỏ Kon Tum
nhà thờ Gỗ cao nghiêm màu quý trọng
giữa bầu trời óng ánh một chấm nâu

178
tòa Giám Mục nhìn yên bình thánh thoát
nhành hoa Sứ trắng muốt đến dịu dàng
chiều Tây Nguyên trên chiếc dương cầm gió
làm hồn anh gõ nhịp nhớ mênh mang

179
nhà Kon Klor, nét đẹp đầy chiêm ngưỡng
cây cầu treo thơ mộng dưới nắng chiều
nàng sơn nữ tóc dài buông trong gió
thơ anh cài trên đôi cánh tình yêu

180
khu miệt vườn chờ ai về hái trái
hoa bên này đang nở đóa tương tư
xin hỏi nhé làm sao về Phương Quý
để tìm em trao gởi nhánh tâm tư

181
chiều Măng Đen dáng hồng như tiên nữ
mặt hồ xanh trên con nước lững lờ
theo tiếng gọi để thiên đàng xuống ngự
Đà Lạt mơ ở giữa trời Tây Nguyên

182
thác Ya Ly chiếc bóng chiều dĩ vãng
còn lại đây như một bản tình ca
thuở xa xưa, lời dư âm gọi nhớ
một nỗi lòng xin gởi lại Đắk Bla

183
thuở hôm nào mắt em tương tư lạ
nốt nhạc trời trên suối thác Phú Cường
anh yêu mãi khung Cầu Vồng bảy sắc
Plei-ku buồn, chiều mưa nhớ vấn vương

184
mùa Ning Nơng vẫn về đây thơ dại
tiếng Cồng Chiêng gõ lại những nét tình
chiếc áo mỏng một lần em che gió
dưới mây trời, đồi núi cũng lung linh

185
chiều vàng thắm bên bờ Tơ Nưng vắng
khi bơ vơ, em có hiểu nắng gầy
hồ Mắt Ngọc chớ quên dòng lệ trắng
giọt mưa buồn trên biển núi năm xưa

186
anh thương chúc dẫu rằng em chưa biết
tháng ngày qua, rừng thông lá còn xanh
bãi cỏ Gào có dáng hình em đó
nơi chúng mình yêu nhớ mắt long lanh

187
chiều Tây Nguyên vẫn còn đây hẹn gởi
anh tìm về để nhìn lại tuổi thơ
góc sân trường có cành hoa đan nhớ
tháng năm dài, thêu cánh Phượng yêu thương

188
áo học trò mộng mơ màu cỏ lá
nắng trải vàng Ban Mê Thuột chiều nao
bờ tóc ngoan làm anh thương nhớ quá
gió theo về cùng vỗ bến tương tư

189
chiếc thuyền mơ nhẹ trôi trên hồ Lắk
anh mãi nhìn đắm đuối một bóng hình
vòng tay nhỏ cũng trao mời âu yếm
ngả nghiêng thương cho đượm nét ân tình

190
hồ Ea Kao chờ ai bên gió nắng
ngọn sóng xưa xin trôi chảy về nguồn
cho mắt anh khóc tràn lên lời nhắn
em chớ buồn để thơ vẫn còn yêu

191
chiều Bản Đôn, gió mây gần nhau lại
hỏi em rằng nụ hôn gởi về đâu
dòng Đray Sáp u hoài cơn mộng lẻ
khẽ gọi nàng, em có nhớ mùa Ngâu

192
thác Đray Nu nhỏ hạt nồng vương vấn
rơi dịu dàng trên từng bước Tây Nguyên
nỗi niềm xưa như dòng Sê-rê-pốk
vẫn dạt dào thương nhớ cõi trời riêng

193
sáng sớm mai, về thăm miền đất võ
nhìn mà thương gió núi giữa biển rừng
Bình Định xưa vẫn đậm đà sắc nhớ
trong tim em tiếng suối thác gọi mừng

194
nắng long lanh, gió vàng trên cát mỏng
chiều xuống gần trên tay nước chập chờn
em thôn nữ, về đây thêu vẽ mộng
suối Giếng Tiên bên trăng sáng lập lòe

195
đảo Hòn Khô, biển viền quanh bờ bến
sóng tung tăng như hoa trắng nở chào
em về thăm ngôi làng chài Nhơn Hải
thương nắng hồng theo tà áo bay cao

196
chiều xuống thấp nơi Quy Hoà bãi nhớ
gió lùa về trên suối tóc yêu đương
anh ngơ ngẩn giữa rừng thơ chắp cánh
biển vỗ bờ để hôn nhẹ làn hương

197
đầm Thị Nại bình minh theo quyến rũ
gió ban mai cũng mở rộng bàn tay
cho em biết, ai đang chờ đón gọi
anh tìm về trao gởi mộng đắm say

198
Cù Lao Xanh, hoàng hôn dập dờn đến
bãi Hoàng Hậu có tiếng sóng mời chào
cá múa bay giữa Hầm Hô trìu mến
Kỳ Co thương, anh giữ mãi vào lòng

199
chiều trở lại, ghé thăm Vầng Trăng Khuyết
bóng đêm soi khu phố nhỏ Quy Nhơn
nhìn thương em, mưa về trên mắt biếc
tháng năm dài, lời âu yếm chưa phai

200
đồi Phương Mai, nẻo về trên năm tháng
cánh chim xưa vẫn còn đó đợi chờ
gió bay cao để chào nhau ngày sáng
xin rừng Dương chớ e ấp nhánh sầu

201
lệ biển sông tìm chảy về nguồn cội
dẫu đời mình chỉ là cánh chim bay
anh nhớ thương ân tình về chung lối
suối Giếng Tiên còn vọng tiếng hát buồn

202
trời dịu nắng, anh tìm về Ghềnh Ráng
đá cuội tròn vẫn quạnh giá bơ vơ
bóng Nam Phương đã theo vào huyền thoại
thi sĩ nào gói trọn hết vần thơ

203
đêm xuống vội, gió mây về đỉnh núi
ai tìm ai trên dốc đá Mộng Cầm
nếu em thương vườn hoa Hàn Mặc Tử
xin nén nhang cho kẻ bán trăng rằm

204
cầu Thị Nại ngỡ chừng dài thêm nhớ
ánh trăng rơi còn dĩ vãng tháng ngày
chiếc thuyền thơ vẫn dập dờn sóng vỡ
hỏi tìm ai vẽ lại đóa hương tình

205
một buổi chiều về thăm miền Đại Lãnh
đất Vân Hòa yên ắng, vùng Phú Yên
sông Đà Rằng như hồ Hương mơ mộng
rừng núi Nhạn nằm trên cánh chim thiêng

206
vịnh Vũng Rô dịu dàng con nước chảy
vết tình si ghi đậm dấu vào tim
gió mơ màng vỗ về gành Đá Đĩa
anh nhớ hoài hình bóng em trong đêm

207
đầm Ô Loan dưới làn mây xanh thẳm
mình ước nguyền để nhớ mãi Mằng Lăng
vẫn là em một biển trời mê đắm
đập Đồng Cam còn vỗ sóng miệt mài

208
núi Đá Bia, anh khắc sâu hình bóng
thuở tình hồng chan chứa bên hòn Nưa
yêu mông mênh ngỡ chừng như đèo Cả
cánh hoa Vàng trên thảm cỏ năm xưa

209
hội Thơ Đêm, anh cùng em lãng mạn
trăng Nguyên Tiêu vẽ đẹp trên nét mày
tuổi ngây ngơ chợt về trên mắt nhớ
bãi Xép dài như những cánh diều bay

210
vịnh Xuân Đài luyến lưu màu kỷ niệm
đất trời vàng, ngày tháng mình bên nhau
tình mãi thế một kiếp đời mong ước
vạt sóng vờn trên hòn Yến lao xao

Trường Đinh
UK, sương mù già 2018

Chú thích về các địa danh:
(Phỏng lược từ các tài liệu Wikipedia và một vài trang web liên quan)

+ Sông Hoài: Một chi nhánh nhỏ của sông Thu Bồn, chảy ngang qua khu phố cổ Hội An. Con sông này được xem là một trong những biểu tượng đặc trưng của phố cổ Hội An. Du khách có thể chèo thuyền đón hoàng hôn và thả đèn hoa trên sông nước để mang lại may mắn cho gia đình và bạn bè thân.

+ Hội An: Một phố cổ ở hạ lưu sông Thu Bồn, thuộc tỉnh Quảng Nam, cách thành phố Đà Nẵng khoảng 30 km. Phố cổ là khu du lịch nổi tiếng với những kiến trúc truyền thống rất độc đáo từ hàng trăm năm về trước, được công nhận là Di Sản Văn Hóa từ năm 1999. Đến với Hội An vào ngày lễ trăng rằm là thời điểm kỳ thú, vì cả khu phố sẽ tắt hết đèn điện, chỉ treo đèn lồng và thả hoa đăng trên sông nước, tạo nên một thế giới ánh sáng diễm ảo và lặng tĩnh chỉ có riêng ở khu phố cổ Hội An. Một trong những địa điểm độc đáo của phố cổ Hội An là quán trà câm điếc (Silent Tea House - Reaching Out), với những đồ dùng được thiết kế và phục vụ bởi những người khuyết tật chân tình. Những cụm làng nghề truyền thống trong số 12 làng nghề nổi tiếng ở Hội An là làng mộc Kim Bồng, làng gốm Thanh Hà, làng rau Trà Quế và làng đúc đồng Phước Kiều. Hội An còn có nhiều dịch vụ đẹp như may áo trong ngày, dạo chơi tưới rau, chèo xuồng giữa hoàng hôn, thả cánh hoa đăng và đạp xe ngoại ô. Các món ăn độc đáo tuyệt vời của Hội An gồm có bánh bao, bánh vạc (còn gọi là bông hồng trắng), cơm gà, mì Cao Lầu, bánh mì Phượng, bánh mì Madam Khánh, thịt xiên nướng, bánh đập, hến trộn, chè bắp, bánh xèo, bánh ướt và mì Quảng.

+ Bãi An Bàng: Một bãi biển cát trắng nằm gần Cửa Đại ở Hội An (cách khoảng 3 km đường bộ), được xem là thiên đường thầm lặng so với các bãi tắm ồn náo khác ở Hội An. Bãi An Bàng, một khung cảnh mơ màng đẹp với những chiều vàng gió nhẹ, cho du khách nhiều cảm giác bình yên và thanh mát tĩnh lặng.

+ Lai Viễn Kiều: Còn gọi là Chùa Cầu, một cây cầu gỗ dài 18 m xây dựng trên những trụ đá trong khu phố Hội An, do các thương nhân người Nhật góp tiền xây dựng, vì vậy nó còn được gọi là cầu Nhật Bản. Năm 1719, chúa Nguyễn đặt tên cho chiếc cầu này là Lai Viễn Kiều (cầu đón khách phương xa). Hai đầu cầu có tượng chó và tượng khỉ đứng chầu, là những giống vật được người Nhật sùng bái từ xưa ấy. Có người cho rằng, Chùa Cầu được khởi xây từ năm Thân và hoàn tất vào năm Tuất. Theo truyền thuyết kể rằng, cây cầu này được xem như một thanh kiếm báu đâm xuống lưng con quái thú, khiến cho nó không thể quẫy đuôi làm nên những trận động đất trên khu phố Hội An.

+ Nhà Tấn Ký: Một ngôi nhà cổ với lối kiến trúc đặc trưng của vùng phố Hội An, được xây dựng cách đây gần 200 năm. Khu nhà Tấn Ký được cấp bằng Di Tích Lịch Sử Văn Học Quốc Gia năm 1990.

+ Thác Trắng: Còn gọi là Thác Trắng Minh Long, thuộc xã Thanh An, huyện Minh Long, một trong những ngọn thác đẹp nhất của tỉnh Quảng Ngãi, cách trung tâm thành phố khoảng 23 km. Thác Trắng có độ cao khoảng 40 m, với dòng chảy tung tóe trắng xóa cả một vùng, được ví như suối tóc của nàng Tiên buông xõa theo ghềnh đá.

+ Đảo Lý Sơn: Còn gọi là Cù Lao Ré (cù lao có nhiều cây Ré), là một huyện đảo duy nhất của Quảng Ngãi, cách thành phố tỉnh khoảng 40 km. Hòn đảo là dấu tích còn lại của ngọn núi lửa 5 miệng đã nguội. Lý Sơn nổi tiếng với loại tỏi đen có hương vị lên men rất thơm ngon, đặc biệt là tỏi một tép (còn gọi là tỏi cô đơn), vì vậy huyện đảo này đã được mệnh danh là "vương quốc tỏi" của Việt Nam.

+ Núi Cà Đam: Đây là vùng núi của loài sâm bảy lá, có độ cao 1431 m, là ngọn núi cao nhất ở Quảng Ngãi. Tên núi Cà Đam là cách gọi của dân tộc Kor, với người Kinh thì gọi là núi Vân Phong (mây và gió). Nơi thôn Quế dưới chân núi Cà Đam, có loài heo đen Kiềng Sắt là vật nuôi lấy thịt của đồng bào dân tộc Kor.

+ Làng Thiên Xuân: Một ngôi làng cổ cách nay khoảng 600 năm, nằm dưới chân núi Nứa, thuộc thôn Thiên Xuân, huyện Nghĩa Hành, cách thành phố Quảng Ngãi 45 km. Nơi đây có hệ thống thành lũy bằng đá xếp chồng lên nhau cao đến 3 m. Theo truyền thuyết kể rằng, khi xưa ở vùng núi Nứa núi Dâu, dọc theo thung lũng sông Vệ có rất nhiều cọp dữ, vì vậy dân làng đã cho xây bức tường đá cao với nhiều tre gai dày đặc chung quanh để ngăn ngừa các thú dữ đến gần.

+ Thành Châu Sa: Còn gọi là thành Hời, là một thành lũy cổ bằng đất duy nhất còn sót lại của người Chăm, xây dựng vào thế kỷ thứ 9 tại xã Tịnh Châu.

+ Biển Sa Huỳnh: Một bờ biển đẹp hoang sơ của tỉnh Quảng Ngãi, thuộc xã Phổ Châu và Phổ Thạnh của huyện Đức Phổ. Trước đây, địa danh này được gọi là Sa Hoàng (có nghĩa là bãi cát vàng) nhưng sau đó vì bị trùng tên với chúa Nguyễn Hoàng nên đã được người dân địa phương đọc lái là Sa Huỳnh. Nơi xã Phổ Thạnh, có khu vực nổi tiếng là cánh đồng muối Sa Huỳnh, một vựa muối lớn ở miền Trung Việt Nam.

+ Biển Mỹ Khê: Một bãi biển cát mịn của thành phố Quảng Ngãi, chạy dài 7 km dọc theo rừng dương xanh thẳm, thuộc thôn Cổ Lũy, xã Tịnh Khê, cách trung tâm thành phố khoảng 12 km. Là một trong những bãi biển đẹp nhất của Việt Nam.

+ Quảng Ngãi: Một tỉnh lỵ ven biển thuộc vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ, có chiều dài lịch sử về văn hóa Sa Huỳnh và văn hóa Chăm Pa, với 2 thắng cảnh nổi tiếng là núi Thiên Ấn và sông Trà Khúc. Quảng Ngãi là quê hương sinh quán của vị võ tướng Trương Công Định, một thủ lĩnh chống Pháp thời nhà Nguyễn của lịch sử Việt Nam. Món đặc sản của Quảng Ngãi bao gồm bánh bèo tôm chấy, bánh in, bánh nổ, bánh thuẫn, bánh tráng đập, bò hít (gỏi bò khô đu đủ ớt cay), bún cá ngừ um, cá bống sông Trà kho tiêu, cá cơm rim tiêu, cá niên nướng, chim mía nướng (chim ngủ trong những cánh đồng mía), cúm núm Sa Huỳnh nướng (cua nhỏ), kẹo mạch nha, kẹo gương đậu phộng, ốc hút xả ớt, mì Quảng, ram bắp và quế Trà Bồng. Đặc biệt ấn tượng nhất là mắm nhum biển (nhím biển), món Don ăn với bánh tráng (giống con hến ở miền Trung) và tỏi đen Lý Sơn.

+ Núi Thiên Ấn: Còn gọi là Kim Ấn Sơn, một ngọn núi cao 106 m, thuộc xã Tịnh Ấn Đông, tỉnh Quảng Ngãi. Hình dáng quả núi nhìn giống một chiếc ấn của trời bên cạnh một dòng sông xanh, vì vậy người xưa còn gọi là Thiên Ấn Niêm Hà (dấu trời đóng bên sông). Núi Thiên Ấn được xem là đệ nhất thắng cảnh và là vùng núi thiêng của người dân Quảng Ngãi. Trên đỉnh núi có ngôi chùa cổ Thiên Ấn nằm dưới bóng cây cổ thụ, được nhắc đến trong ca khúc Thiên Ấn Tự của nhạc sĩ Anh Bằng (1926-2015).

+ Sông Trà Khúc: Con sông lớn nhất của tỉnh Quảng Ngãi, chảy ngang qua núi Thiên Ấn và các huyện xã núi rừng ven cạnh, có chiều dài khoảng 135 km. Là một trong 2 biểu tượng nổi bật của tỉnh Quảng Ngãi (một biểu tượng nổi bật khác là núi Thiên Ấn).

+ Cù Lao Chàm: Còn có tên gọi khác là Chiêm Bất Lao, hay Tiên Bích La. Là một cụm đảo san hô thơ mộng thuộc xã Tân Hiệp, thành phố Hội An, cách bờ biển Cửa Đại khoảng 15 km, dân số độ chừng 3000 người. Đây là điểm du lịch nổi tiếng vì có khí hậu trong mát và vẻ đẹp hoang nhiên rất quyến rũ, đặc biệt là dòng Suối Tình lãng mạn trong vắt, giếng cổ Chăm trên 200 năm, cây đa 600 năm tuổi và các bãi tắm tuyệt đẹp. Đảo Cù Lao Chàm được nhiều du khách nước ngoài so sánh là một Hawaii của Việt Nam. Những món ăn đặc sản nổi bật của vùng đảo này là ốc vú nàng và cua đá, cùng với các loại rau rừng hoang dã như rau dớn, rau sân, rau lủi và mã đề.

+ Kon Tum: Tên gọi Kon Tum có nghĩa là Làng Hồ (ngôi làng ở vùng hồ nước) theo tiếng người Ba Na. Là một tỉnh thuộc vùng cực bắc Tây Nguyên, cách Pleiku khoảng 50 km, cách Sài Gòn khoảng 600 km, giáp ranh giới với Lào và Campuchia. Cơ sở Thiên Chúa Giáo ở vùng cao nguyên được người Pháp cho thiết lập đầu tiên ở tại nơi đây. Miền đất Kon Tum nổi tiếng với nhà thà Gỗ và toà Giám Mục. Các món đặc sản Kon Tum bao gồm gỏi lá thịt ba chỉ (với trên 40 loại lá khác nhau), bê non nướng mọi, cơm nướng lồ ô (cơm lam), thịt trâu, cháo chim câu, phở khô, bánh bèo nhân tôm, xôi măng, chim cút nướng lu, chuối nướng, bánh bột lọc và rượu cần.

+ Nhà Thờ Gỗ: Còn gọi là nhà thờ chính toà Kon Tum, được người Pháp cho xây dựng vào năm 1913, với loại gỗ cà chít màu nâu rất sang trọng. Tường vách được làm bằng đất trộn rơm. Là một di tích cổ xưa đã trên 100 năm tuổi và là khu vực tham quan đẹp nhất của thành phố. Một trong những biểu tượng của miền đất sơn nữ núi rừng Kon Tum. Trong khuôn viên nhà thờ còn có cô nhi viện, các cơ sở thủ công thêu may và dệt Thổ Cẩm.

+ Nhà Rông Kon Klor: Khu vực nổi bật của tỉnh Kon Tum với danh xưng “Nhà rông lớn nhất Việt Nam”.

+ Cầu Treo Kon Klor: Thuộc địa phận làng Kon Klor, thành phố Kon Tum. Đây là chiếc cầu treo bằng sắt to đẹp nhất khu vực Tây Nguyên, nối liền hai bờ của dòng sông Đắk Bla.

+ Đắk Tô: Một huyện của tỉnh Kon Tum, giáp ranh giới với Ngọc Hồi, Sa Thầy, Đắk Hà và Tu Mơ Rông. Đắk Tô là tên gọi của dòng suối nước nóng của làng người Xê Đăng.

+ Đắk La: Một xã thuộc huyện Đắk Hà, tỉnh Kon Tum.

+ Măng Đen: Khu du lịch sinh thái ở Kon Tum, thuộc huyện Kon Plong, nổi tiếng với rừng thông xanh mát, nằm ở độ cao 1000 m so với mực nước biển, khí hậu trong lành và mát mẻ quanh năm. Măng Đen còn được mệnh danh là Đà Lạt thứ 2 của Tây Nguyên. Tên gọi Măng Đen xuất phát từ chữ T’Măng Deeng của người Mơ Nâm, có nghĩa là vùng đất bằng phẳng và rộng lớn.

+ Rượu Cần: Loại rượu đặc sản truyền thống của người Mường, không cần chưng cất mà chỉ ủ men trong các ghè/ché. Dùng nhiều loại lá rừng khác nhau, cùng với các loại cây thuốc bắc, ớt, gừng, riềng để làm men ủ với vỏ trấu. Vật liệu chính là gạo nếp Be còn cám của vùng Điện Biên, hoặc là các loại ngũ cốc khác như hạt cào, bo bo, kê, ngô, sắn, nếp tẻ... Rượu Cần được đặc biệt dùng trong các dịp tế lễ, hội làng, tết dân tộc và tiếp đãi khách quý. Thông thường thì một bình rượu Cần sẽ được cắm 6 chiếc Cần làm bằng ống trúc và đục xuyên lỗ ở giữa. Uống rượu Cần bên nhau là nét văn hóa rất đặc trưng của người Mường, thể hiện sự quý trọng, thân thiện, yêu thương và đoàn kết với nhau.

+ Toà Giám Mục Kon Tum: Còn gọi là Tiểu Chủng Viện Thừa Sai, được xây dựng vào năm 1935, đa số các cột trụ đều làm bằng các loại gỗ quý hiếm.

+ Phương Quý: Một ngôi làng nhỏ, còn gọi là Vườn Mai vì trước kia có rất nhiều cây mai cổ thụ. Ngày nay, gọi là làng Phương Quý, một khu miệt vườn của Kon Tum. Nơi đây, du khách có thể ghé thăm và hái trái cây từ trên cành để thưởng thức tại chỗ.

+ Thác Ya Ly: Còn có tên là Jrai-li, là một trong những thác nước lớn nhất ở Việt Nam. Ngày nay, thác Ya Ly đã bị ngăn dòng để xây dựng nhà máy thủy điện Ialy. Ngọn thác hùng vĩ Ya Ly gắn liền với truyền thuyết về chàng Y Rốc và nàng Ly. Một thuở xưa, có một nàng con gái của vị trưởng làng rất xinh đẹp tên Ly. Trong làng có 2 chàng trai yêu nàng say đắm. Đó là chàng Y Rốc và chàng Y Rít. Nàng Ly thì rất yêu thích chàng Y Rốc. Vị trưởng làng cho tổ chức những cuộc thi công bằng để chọn người chiến thắng. Cuộc thi cuối cùng là vượt sông Sê San và lên núi Bêu Choong để giết một con cọp dữ. Y Rít nhát gan nên bỏ cuộc. Y Rốc thì gan dạ hơn, đã nhảy xuống dòng sông và bơi qua bên kia bờ. Nàng Ly mỗi ngày ra bờ sông chờ Y Rốc trở về nhưng nàng chờ đợi và chờ đợi mãi vẫn không thấy Y Rốc. Đau thương cho cuộc tình chia cắt, nước mắt nàng Ly đã chảy dài hằng đêm tạo thành con thác lớn. Cuối cùng nàng Ly vì quá đau khổ và kiệt sức đã gục chết ở đó. Dân địa phương tưởng nhớ đến nàng nên gọi thác này là Ya Ly, có nghĩa là nước mắt của người con gái tên H'Ly.

+ Sông Đắk Bla: Là dòng sông biểu tượng cho miền đất Kon Tum, có chiều dài 157 km. Sông Đắk Bla chảy qua các tỉnh Kon Tum và Gia Lai. Đây là con sông chảy ngược từ Đông sang Tây của Việt Nam. Theo truyền thuyết kể rằng, thuở xa xưa bên hữu ngạn sông Đắk Bla là làng người J'rai, bên tả ngạn là làng Bahna. Hai làng thường xảy ra đánh nhau và có mối thù sâu đậm. Chàng trai người J'rai và cô con gái người Bahna ở 2 làng lại yêu thương nhau. Vì muốn ngăn cản 2 làng để dẹp tắt sự thù hận và cũng vì chuyện tình của 2 người đã không được làng chấp nhận, nên chàng J'rai và nàng Bahna đã ra bờ sông, đâm dao vào cổ và nhảy xuống sông để tự vận. Máu của chàng chảy về làng Bahna. Máu của nàng chảy về làng J'rai. Hai dòng máu gặp lại ở giữa dòng sông và cùng chảy ngược lại về làng Bahna, như tuân theo luật tục mẫu hệ của người J'rai. Máu của 2 người hòa vào nhau đã làm cho dòng sông trở thành đỏ thẫm và chảy ngược về hướng Tây. Kể từ đó, hai ngôi làng hiểu chuyện và cùng sống hòa thuận với nhau trong yên bình.

+ Thác Phú Cường: Một ngọn thác đẹp hùng vĩ có độ cao 45 m, cách thành phố Pleiku khoảng 40 km, có dáng hình như những dải lụa trắng vắt ngang núi rừng xanh. Quanh bờ thác, các cảnh tượng nhìn rất hoang vu đẹp mắt, với ánh Cầu Vồng bảy sắc màu phản chiếu bên sườn núi linh lung. Thác Phú Cường nằm trên nền nham thạch của một ngọn núi lửa đã ngừng hoạt động, là điểm thắng cảnh thơ mộng cho các khách du lịch trong và ngoài nước.

+ Cầu Vồng Bảy Sắc: Ánh vồng phản chiếu trên mặt nước thác có 7 màu sắc chính là đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm, tím. Thực sự, Cầu Vồng có rất nhiều màu sắc khác nhau trên những góc độ đa chiều nhưng mắt người khó có thể phản xạ nhìn được hết.

+ Pleiku: Thủ phủ của tỉnh Gia Lai ở vùng Tây Nguyên, cách Buôn Ma Thuột khoảng 200 km. Là điểm dừng chân thú vị cho du khách, đặc biệt vào những mùa khô lạnh mát (từ cuối tháng 11 đến tháng 4) với các lễ hội truyền thống cồng chiêng, với hoa Dã Quỳ vàng rộ nở sáng hôm và hương hoa cà phê thoang thoảng mỗi chiều tàn. Tên Pleiku có gốc nguồn từ chữ Plei-Kou-Derr (phiên âm Plơi-Kơ-Dưr, có nghĩa là bản làng ở hướng Bắc, hay là ngôi làng ở trên cao). Các món đặc sản thú vị ở Pleiku gồm có bún mắm cua, cơm lam, gà nướng than, phở khô, bánh canh bột lọc, bánh bèo chén, gỏi cà đắng, thịt bò nướng ống, bò một nắng chấm muối kiến vàng, canh lá bép, lụi, nem và cà phê đen vào buổi sáng sớm.

+ Mùa Ning Nơng: Đây là dịp tổ chức các lễ hội cồng chiêng sau những mùa thu hoạch ruộng rẫy của đồng bào dân tộc vùng Tây Nguyên, để nhắc nhỡ cho nhau về cội nguồn nguyên thủy giữa con người, rừng và thần linh. Nhiều lễ hội truyền thống khác cũng được tổ chức ở các miền vùng cao như đâm trâu, bỏ mả, dệt váy, đan gùi, chế rượu, cầu mưa... Mùa Ning Nơng còn gọi là "mùa ăn năm uống tháng", để dân làng được ngơi nghỉ và say sưa vui chơi ở các buôn miền thôn dã.

+ Biển Hồ Tơ Nưng (T'Nưng, Ea Nueng): Khu vực tham quan nổi tiếng đẹp nhất ở vùng Tây Nguyên, cách trung tâm thành phố Pleiku khoảng 7 km. Theo tiếng Gia Rai, chữ T'Nưng (phiên âm là Tơ Nưng) có nghĩa "biển trên núi", vì những mùa gió to thường có sóng lớn nên gọi là biển hồ. Theo truyền thuyết kể rằng, thuở xa xưa vùng Biển Hồ là khu vực dân cư trù phú chung sống hồn nhiên và yên bình. Rồi một hôm, ngọn núi lửa bùng vỡ đã thiêu đốt toàn bộ ngôi làng. Dân địa phương khóc than theo năm tháng buồn đau và những dòng nước mắt triền miên đã chảy đổ làm thành một Biển Hồ Tơ Nưng như ngày nay. Trên phạm trù thơ, xin được gọi vùng Tơ Nưng huyền thoại là biển núi, hồ nước mắt, hồ mắt ngọc, hồ biển lệ, hồ lệ ngọc, hồ ngọc, hồ lệ...

+ Bãi Cỏ Xã Gào: Một vùng cỏ vàng cháy vào mùa khô nhìn rất đẹp mắt trong những buổi chiều lãng mạn, nằm gần trung tâm thành phố Pleiku. Là điểm hẹn tài tử cho các nhiếp ảnh gia và các bạn yêu đương hồn nhiên trẻ.

+ Tây Nguyên: Vùng cao nguyên đất đỏ Trung Phần Việt Nam, gồm 5 tỉnh là Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng.

+ Ban Mê Thuột: Một quận lỵ thuộc xã Lạc Giao, là vùng đất của người Ê Đê thuở xa xưa, cách Sài Gòn khoảng 350 km. Sau 1975, thành phố đổi tên là Buôn Ma Thuột, thuộc tỉnh Đắk Lắk. Nơi đây được ví như "thủ phủ cà phê" của Việt Nam. Ở Đắk Lắk gần như nơi nào cũng có trồng cà phê nhưng hương vị cà phê Buôn Ma Thuột là thơm ngon đặc biệt nhất. Tỉnh Đắk Lắk được xem là nơi có năng suất cà phê thu hoạch cao nhất trên thế giới. Mỗi 2 năm vào khoảng tháng 3 có một lễ hội rất lớn được tổ chức ở Buôn Ma Thuột, gọi là lễ hội cà phê (Lễ hội vừa qua được tổ chức vào ngày 10-13 tháng 3 năm 2017). Vùng đất này nổi tiếng về các suối thác thiên nhiên hoang dã tuyệt đẹp, văn hóa cồng chiêng và múa vũ dân tộc. Nổi bật nhất là những buôn làng kiến trúc theo phong cách Tây Nguyên truyền thống, như Ako Dhong (còn gọi là Cô Thôn, cách thành phố Buôn Ma Thuột khoảng 2 km). Các món đặc sản ở Buôn Ma Thuột thì rất nhiều, nhưng độc đáo nhất là gà sa lửa, cơm lam, canh chua cá lăng Sê-rê-pốk, gỏi cà đắng, bún đỏ, gà lá giang, bò nhúng me, bánh ướt thịt nướng, lẩu lá rừng, bánh canh cá dầm, đọt mây nướng, rau dầm tang, cá bống thác kho riềng, cháo óc... và lai rai đặc biệt với rượu cần Mơ Nông.

+ Hồ Lắk: Một hồ nước ngọt tự nhiên lớn nhất ở tỉnh Đắk Lắk. Bên cạnh hồ có ngôi biệt điện của vua Bảo Đại, nhà dài truyền thống của dân tộc Mơ Nông và nhiều cây cổ thụ trên 100 năm, đặc biệt là 2 cây Long Não lớn nhất ở Việt Nam. Món đặc sản của vùng này là chả cá thát lát hồ Lắk có độ dẻo cao và rất thơm ngon.

+ Hồ Ea Kao: Một hồ nước ngọt nhân tạo ở tỉnh Đắk Lắk, cách thành phố Buôn Ma Thuột khoảng 12 km. Là địa điểm câu cá thích thú cho các khách du lịch và người dân địa phương. Đặc sản của vùng này là món chuối chiên Y Wang.

+ Bản Đôn: Còn gọi là Buôn Đôn, cách Ban Mê Thuột khoảng 40 km. Là một địa điểm du lịch hấp dẫn vì nơi đây có truyền thống thuần dưỡng các giống voi rừng. Khách du lịch có thể đi tham quan quanh vùng trên lưng voi rất lý thú, với sự hướng dẫn của các cô bé Mơ Nông tí hon.

+ Thác Đray Sáp (Dray Sap): Còn gọi là thác Chồng, một thác nước lớn trên dòng sông Sê-rê-pốk, cách thành phố Buôn Ma Thuột khoảng 30 km. Truyền thuyết kể rằng, thuở xa xưa có một nàng con gái Ê Đê xinh đẹp tên là H'Mi. Một hôm, nàng cùng với người yêu vào rừng. Lúc đang ngồi nghỉ trên tảng đá lớn, thì bất ngờ xuất hiện con quái thú phun nước đẩy chàng trai văng ra xa và bất tỉnh. Khi tỉnh lại, chàng mới biết con quái thú đã bắt nàng H'Mi đi mất. Chàng trai khổ đau kiệt sức nằm chết và hóa thành rừng cây to đâm sâu gốc rễ vào các tảng đá. Con quái thú sau này chết và biến thành dòng thác lũ.

+ Thác Đray Nu (Dray Nur): Còn gọi là thác Vợ, một thác nước đẹp trên dòng sông Sê-rê-pốk, cách thành phố Buôn Ma Thuột khoảng 25 km. Truyền thuyết kể rằng, chàng Nur là con trai của vua Thủy Tề. Một hôm, chàng dạo chơi và gặp 2 cô gái nghèo khổ. Vì xót thương nên chàng làm phép ra cơm gạo và cùng sống với 2 nàng. 3 người chung sống với nhau rất hạnh phúc. Một hôm, chàng Nur muốn về thăm cha nhưng 2 nàng tìm cách cản bước vì sợ chàng ra đi sẽ không trở lại nữa. Đêm đến, chàng Nur biến hình thành con dũi vàng vượt nước về thăm cha. Ngày qua ngày, 2 nàng chờ đợi mãi, khóc nhớ đau thương nhưng vẫn không thấy chàng Nur trở về. Từ đấy, người dân địa phương gọi dòng thác này là thác con dũi vàng. Những tia nước vung tung toé vào nhau là những hạt lệ nhớ thương của 2 người vợ chàng Nur.

+ Sông Sê-rê-pốk (Serepok): Dòng sông lớn nhất của tỉnh Đắk Lắk dài 406 km, được hợp thành từ 2 con sông nhỏ là Krông Ana (còn gọi là sông Cái) và Krông Nô (còn gọi là sông Đực).

+ Bình Định: Một tỉnh thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam, giáp ranh giới với Quảng Ngãi, Phú Yên, Gia Lai và biển Đông. Tỉnh lỵ của Bình Định là thành phố cảng Quy Nhơn, cách Sài Gòn khoảng 652 km. Vùng đất này còn được mệnh danh là xứ Nẫu (có nghĩa là xứ Người Ta), nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam với 3 anh em nhà Tây Sơn (Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ) và môn võ Bình Định cổ truyền. Bình Định là nơi có nghệ thuật tuồng nổi tiếng (còn gọi là hát bội, hát bộ) gắn liền với tên tuổi của danh nhân Đào Duy Từ. Những điểm tham quan khá nổi tiếng ở Bình Định bao gồm biển Quy Nhơn, tháp Bạc (tháp Bánh Ít), Eo Gió, Kỳ Co, mũi Vi Rồng, đảo Yến, biển Đề Gi, suối nước nóng Hội Vân, chùa Thiên Hưng, khu dã ngoại Trung Lương, núi Bà, hồ Núi Một, nhà thờ Chánh Tòa, suối Giếng Tiên và động Cườm. Đặc sản nổi bật nhất của Bình Định là rượu Bàu Đá An Nhơn, cá chua nước lợ Đề Gi, bánh tráng nước dừa Tam Quan, bún Song Thằn, nem chả Chợ Huyện, bánh ít lá gai, bánh tráng Trung Thành, bánh hỏi lòng heo và cá ngừ Hoài Nhơn (dân địa phương gọi là cá Bò Gù).

+ Suối Giếng Tiên: Nằm hướng Tây Bắc của ngọn hải đăng cổ Cù Lao Xanh. Theo tương truyền, vào những đêm trăng sáng có các nàng tiên nữ từ trên trời xuống du ngoạn, rồi cởi bỏ xiêm y để cùng nhau tắm mát trên dòng suối thơ mộng này.

+ Hòn Khô: Được xem là tấm bình phong che gió bão cho làng chài Nhơn Hải. Trong những mùa biển động, sóng lớn tung bay trắng xóa như những đóa hoa biển trên nhánh đảo Hòn Khô.

+ Bãi Biển Quy Hòa: Nằm dọc theo con đường Quy Nhơn Sông Cầu, với dòng chảy xanh trong và sạch đẹp. Là một trong những điểm đến thơ mộng cho du khách ghé tham quan Bình Định Quy Nhơn.

+ Đầm Thị Nại: Một đầm nước lớn nhất Bình Định có chiều dài hơn 10 km. Vào mỗi sáng sớm, mặt đầm óng ánh nắng trời làm mơ màng người thưởng ngoạn bởi vẻ đẹp thiên nhiên quyến rũ. Nơi đây có cây cầu Thị Nại chạy ngang qua biển gồm 54 nhịp lớn nhất ở Việt Nam, nối liền thành phố Quy Nhơn và bán đảo Phương Mai.

+ Cù Lao Xanh: Còn gọi là xã đảo Nhơn Châu, hay hải đảo Vân Phi. Là một đảo nhỏ nằm gần vịnh Xuân Đài, thuộc xã Nhơn Châu, cách thành phố Quy Nhơn khoảng 24 km. Cù Lao Xanh có nét đẹp như tranh vẽ vào lúc hoàng hôn về, với những chiếc thuyền chài linh lung theo từng đợt sóng khơi.

+ Bãi Tắm Hoàng Hậu: Nằm trong khu vực Ghềnh Ráng tức là Ghềnh Ráng Tiên Sa, cách thành phố Quy Nhơn khoảng 3 km. Được xem là bãi tắm đẹp nhất của Bình Định, với bãi Đá Trứng khổng lồ như trứng chim khủng long. Khi xưa, nơi đây là bãi tắm chỉ dành riêng cho Nam Phương Hoàng Hậu vào thời vua Bảo Đại (1927). Ngoài ra, ở vùng đất thơ mộng này còn có ngôi mộ thi sĩ Hàn Mặc Tử, ngọn đồi Thi Nhân và dốc đá Mộng Cầm.

+ Hầm Hô: Khu danh thắng có nét đẹp lãng mạn nhẹ nhàng, cách thành phố Quy Nhơn khoảng 55 km, thuộc thôn Phú Mỹ, xã Tân Phú. Sở dĩ gọi là Hầm Hô vì nơi đây có nhiều phiến đá nhọn chìa ra giống như hàm răng hô ngây ngố bên cạnh những rừng cây xanh mướt lá. Đến với Hầm Hô như bước vào thế giới thần thoại, bởi bên dưới lòng nước là những khối đá hoa cương lấp lánh sắc màu như kim cương. Và hơn nữa, nơi đây có cá bơi ngược dòng bị sóng thác hất tung trở lại, ngỡ như là cá múa bay giữa lừng trời duyên dáng. Dân địa phương có truyền thuyết rằng, mỗi năm Long Vương tổ chức kỳ thi cho cá tại Hầm Hô, con cá nào vượt qua được dòng thác sẽ hóa thành rồng. Do điển tích ấy mà ngọn thác này có tên chữ là Vũ Môn, cư dân tại đây gọi là thác Cá Bay.

+ Kỳ Co: Vùng biển xanh mát với cát trắng mịn màng, thuộc thị xã Nhơn Lý, tỉnh Bình Định, được ví như một Maldives của Việt Nam (Maldives là một quốc đảo gồm các nhóm đảo san hô tại Ấn Độ Dương). Kỳ Co có nét đẹp hấp dẫn lạ kỳ, với 3 mặt giáp núi và 1 mặt giáp biển, cách thành phố Quy Nhơn khoảng 25 km.

+ Quy Nhơn: Một thành phố ven biển thuộc tỉnh Bình Định, miền Trung Việt Nam. Được bình chọn bởi Tạp chí du lịch Rough Guides của Vương Quốc Anh năm 2015 là điểm đến hàng đầu của vùng Đông Nam Á. Bãi biển Quy Nhơn còn gọi là bãi biển "Vầng Trăng Khuyết", đẹp thơ mộng và có nhiều loại đặc sản quý. Những món ăn độc đáo của vùng biển Quy Nhơn là bánh canh chả cá, bánh xèo tôm nhảy, bánh hỏi cháo lòng, gỏi sứa, gỏi cá chình và bánh bèo chén.

+ Đồi Cát Phương Mai: Nằm bên bãi biển Nhơn Lý, cách thành phố Quy Nhơn khoảng 20 km. Có độ cao 100 m so với mặt nước biển, vẻ đẹp còn hoang sơ nhưng rất quyến rũ và trữ tình. Là điểm đến thú vị đối với du khách thưởng ngoạn.

+ Mũi Đại Lãnh: Còn gọi là mũi Điện, nơi đón ánh bình minh đầu tiên trên đất Phú Yên. Ngọn hải đăng Đại Lãnh là địa điểm du lịch nổi tiếng của tỉnh Phú Yên. Đặc sản của vùng này là các món ăn độc đáo làm từ cá chình.

+ Cao Nguyên Vân Hòa: Được ví như Đà Lạt của Phú Yên, thuộc huyện Sơn Hòa, vùng đất với đầy nắng gió và sương mờ. Đặc sản nổi tiếng là mắm mít và mắm thơm.

+ Phú Yên: Một tỉnh lỵ ven biển thuộc vùng Nam Trung Bộ, giáp ranh giới với đèo Cù Mông, đèo Cả, Trường Sơn và biển Đông. Dân Phú Yên thường được gọi là dân xứ Nẫu, chữ Nẫu có nghĩa là "Người ta". Phú Yên nổi tiếng có một thể loại hát Chòi đặc biệt và cũng là nơi đã phát hiện ra nhiều di sản văn hoá độc đáo, như đàn đá và kèn đá. Các món ăn nổi bật bao gồm bánh hỏi lòng heo, mắt cá ngừ đại đương, chả dông, cơm gà, bò một nắng, ghẹ sông Cầu, bánh xèo hải sản, bánh canh hẹ và cua Huỳnh Đế. Món đặc sản nổi tiếng nhất của Phú Yên là sò huyết Ô Loan, có vị ngọt dai rất đặc biệt so với các vùng khác ở Việt Nam.

+ Sông Đà Rằng: Con sông lớn nhất vùng ven biển miền Trung, chảy qua Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk và Phú Yên. Nguồn gốc của tên gọi từ chữ Ea Drăng, có nghĩa là "con sông lau sậy" theo tiếng Chăm cổ.

+ Núi Nhạn: Còn gọi là núi Nhạn Tháp, nằm giữa đồng bằng Tuy Hòa. Sở dĩ có tên núi Nhạn là vì ngọn núi có hình dáng giống con nhạn xòe cánh, nơi đây ngày xưa có rất nhiều loài nhạn đến ở, và trên đỉnh núi có ngôi tháp cổ (gọi là tháp Nhạn) nhìn từ xa giống như con chim nhạn. Truyền thuyết kể rằng, thuở xa xưa Tuy Hòa là một vùng đầm lầy có nhiều loài thú dữ. Để giúp dân làng, Trời sai một người khổng lồ xuống gánh đá lấp vũng đầm để làm thành cánh đồng như Phú Yên ngày nay. Đến lần gánh cuối, vì muốn về sớm nên người khổng lồ đã gánh gấp đôi số đá trên một chuyến đi. Chiếc đòn gánh bị gẫy và rơi xuống 2 thúng đá, làm thành 2 ngọn núi, đó là núi Nhạn và núi Chóp Chài.

+ Vịnh Vũng Rô: Một vịnh nhỏ thuộc huyện Đông Hòa, nằm sát dãy đèo Cả, ranh giới giữa Phú Yên với Khánh Hòa. Một vùng đất của núi rừng và nước biếc hòa quyện vào nhau, tạo nên những cảnh sắc rất thơ mộng.

+ Gành Đá Đĩa: Là điểm du lịch nổi tiếng nhất ở Phú Yên, với những ghềnh đá hình thù đặc biệt do ảnh hưởng địa chất tạo hình. Hiện nay, trên thế giới chỉ có 4 nơi sở hữu (Ireland, Tây Ban Nha, Tô Cách Lan và Việt Nam). Nhìn từ xa, giống như một tổ ong khổng lồ với hàng ngàn khối đá hình lăng trụ màu đen xếp sát gần nhau.

+ Đầm Ô Loan: Nằm dưới chân đèo Quán Cau, được ví như con phượng hoàng tung cánh bay. Đây là điểm du lịch tuyệt đẹp cho du khách để ngắm ánh mặt trời lúc bình minh. Đặc sản nổi tiếng của đầm Ô Loan là sò huyết.

+ Mằng Lăng: Ngôi nhà thờ cổ của Phú Yên xây dựng năm 1892. Là một trong những nhà thờ lâu đời nhất ở Việt Nam. Nơi đây đã từng là nơi dừng chân giảng dạy của giám mục Alexandre De Rhodes và cũng là nơi lưu giữ cuốn sách chữ Quốc Ngữ đầu tiên của Việt Nam.

+ Đập Đồng Cam: Nằm ở huyện Phú Hòa, với phong cảnh đẹp và cách kiến trúc độc đáo.

+ Núi Đá Bia: Tên chữ là Thạch Bi Sơn, dân gian gọi là Núi Ông, là ngọn núi cao nhất trong khu núi Đại Lãnh. Nổi tiếng với tảng đá bia khổng lồ trên đỉnh núi, cao 80 m.

+ Hòn Nưa: Nằm bên chân đèo Cả, vùng giáp ranh giữa Phú Yên và Khánh Hòa, có đỉnh núi cao 105 m so với mặt nước biển.

+ Đèo Cả: Một trong những ngọn đèo hiểm trở ở miền Trung với khung cảnh vô cùng hùng vĩ. Vùng đèo này trước kia là nơi sản xuất Trầm Hương và Kỳ Nam nổi tiếng của Phú Yên.

+ Hội Thơ Đêm Nguyên Tiêu: Là dịp giao lưu của những người yêu thơ đất Phú Yên. Địa điểm tổ chức là vườn hoa Diên Hồng, thư viện Hải Phú và sân núi Nhạn, vào rằm tháng Giêng mỗi năm.

+ Bãi Xép: Nằm ở phía bắc thành phố Tuy Hòa, với nét đẹp hoang dã và mộng mơ. Là điểm du lịch nổi tiếng, được biết đến với hình bóng những em bé thả diều trong bộ phim “Tôi Thấy Hoa Vàng Trên Cỏ Xanh” (2015) của đạo diễn Victor Vũ.

+ Vịnh Xuân Đài: Một vịnh nhỏ nằm dưới chân dốc Găng, thuộc thị xã Sông Cầu. Trong vịnh có khá nhiều bãi tắm đẹp như Vũng La, Vũng Sứ và Vũng Chào.

+ Hòn Yến: Đảo nhỏ thuộc xã An Hòa huyện Tuy An, cách thành phố Tuy Hòa 20 km. Sở dĩ có tên Hòn Yến là vì nơi đây trước kia có rất nhiều chim yến về sinh sống làm tổ.




No comments:

Post a Comment