Thursday, October 18, 2018

Trên Những Miền Quê Hương (phần 1, đoạn 1 đến đoạn 60)

bài thơ đăng trên báo in từng kỳ, Tạp Chí Cỏ Thơm (Virginia USA).

1
mời em nhé, về thăm quê xứ Mẹ
cùng với anh đi từ Bắc vào Nam
ghé Văn Miếu rồi đến chùa Một Cột
đền Ngọc Sơn và làng gốm Bát Tràng

2
chiều dạo bước bên bờ hồ Hoàn Kiếm
tha thẩn nhìn Ba Mươi Sáu Phố Phường
cầu Thê Húc từng bước chân kỷ niệm
ngọn gió thương, áo lụa trắng Hà Đông

3
cây Cơm Nguội mùa thu vàng tươi lá
nắng nhẹ rơi bên góc phố Hàng Đào
Hà Nội ơi, nỗi niềm anh thương nhớ
chiều Tây Hồ vương vấn nụ hôn trao

4
núi Độc Tôn sáng ngời cây Tháp Bút
viết vần thơ, hỏi mưa nắng về chưa
gió thoảng bay, ngạt ngào hương hoa Sữa
theo em về, tìm lại giấc mơ xưa

5
ngàn cánh chim lượn bay hồ An Vũ
mỗi sáng chiều vẽ trắng góc công viên
ngỡ vườn hoa nổi lên bờ mặt nước
đảo hòn Cò giữa thành phố Hưng Yên

6
con đường xưa đưa em về phố Hiến
một khung trời đậm sắc chốn làng quê
hương gió bay theo từng đợt sóng lúa
làm ngất ngây những dấu bước tìm về

7
tuổi làng Nôm bên nếp nhà xưa cũ
đã bao năm với bến nước sân đình
nhánh rêu phong làm thêm nhiều cổ kính
huyện Văn Lâm, cây cầu đá yên bình

8
đền Phượng Hoàng, mái thôn làng ngói đỏ
giữa quê nhà còn nhang khói Phù Cừ
nàng Cúc Hoa bên góc đền trước ngõ
lời thủy chung gói gém trọn lẽ đời

9
ngày hửng sáng, ghé lên miền Bắc Kạn
hồ Ba Bể trên sóng nước mênh mang
bát ngát xanh như làn sương ngọc bích
động Nàng Tiên, em đẹp nét mơ màng

10
chiều bảng lảng, thác ghềnh giăng tơ sóng
đẹp uy nghiêm Bản Giốc bảy sắc màu
núi Cô Muông, cảnh xưa mờ ảo mộng
động Ngườm Ngao, miền sơn cước Cao Bằng

11
sáng mờ sương, vùng núi Đôi Quản Bạ
thoảng mơ màng, nhìn lại Lũng Cẩm Trên
bóng hương hoa, em cười bên nương đá
ánh trời vàng vừa chợt hé cửa chào

12
bước thênh thang giữa thôn làng Lùng Khúy
vách đá treo, vang lên khúc đàn trời
muôn sắc hình dưới áo màu nhũ thạch
em dịu dàng, đưa lối vào cơn mơ

13
hoa nở đẹp theo từng mùa trở giấc
dáng hình em bên cánh gió gieo hương
Tam Giác Mạch díu nhau vào cảnh sắc
khóm đá vàng, rừng cỏ bát ngát thơ

14
hạt lúa thơm trên cánh đồng rực nắng
ruộng bậc thang như nét vẽ vào lòng
mây lại gần ngỡ chừng hôn đèo vắng
gió chiều vương, bay nhẹ giữa Đồng Văn

15
tình mê say trên con đường xoáy dốc
Mã Pí Lèng, nhớ mãi vách núi cao
giữa vầng trời, ngất ngây miền sơn dã
mây trên tay, theo gió vẽ muôn màu

16
em ngơ ngẩn chốn quê nhà Mèo Vạc
anh trở về tìm lại tuổi xa xưa
ngọn thác Tiên reo mình trên sóng nhạc
chiều Hà Giang, rừng đá nở hương hoa

17
biển sương mờ đang về trên Khau Phạ
gió lả lơi theo từng đợt sóng gầy
làm nhớ mãi nụ cười em thương gởi
mây trời xanh, kỷ niệm đã vương đầy

18
vòng tay ấm chiều nay Mù Cang Chải
tình ngây ngơ khi em đã trao thề
bờ dĩ vãng vấn vương ngày thơ dại
chợt trở về trên miền núi Rẻo Cao

19
bên Suối Giàng, mây là đà xuống thấp
nhịp nhàng bay theo từng ráng khói chiều
mình có nhau như thuở nào đã gặp
cánh đồng thơ trên môi mắt Mường Lò

20
hồ Thác Bà trăm năm còn reo mộng
nụ hôn nồng nở mãi mặt trời hoa
mây trắng mỏng theo nắng vờn soi bóng
dáng hình em bên dòng suối Bản Chao

21
chiều Yên Bái, anh về thăm gió núi
trên bàn tay là một biển tình mây
miền sơn cước, Ngòi Tu trao điệu hát
dư âm vang, vẫn còn mãi đắm say

22
Mộc Châu đấy, hừng đông còn sương ngát
dập dờn trôi, con suối nước mơ màng
tháng ngày qua, em trở về huyền thoại
Dải Yếm xưa có tên gọi thác Nàng

23
sóng chè xanh trải dài như biển lạ
nụ cười hồng cũng nhỏ lệ long lanh
chiều kỷ niệm trên vành mây Ngũ Động
tình đẹp ngời như chữ S trong tranh

24
miền Sơn La, khói lam chiều soi bóng
nét bềnh bồng đẹp mãi với duyên xưa
gió đong đưa làm xanh vời Bản Áng
giữa núi rừng còn óng ánh làn mưa

25
động Sa Lai, viên ngọc châu rồng thả
dốc Thung Khe lên cao mãi nắng chiều
màu tím biếc cả một trời nhung nhớ
đóa hoa Ban còn nở trắng tình yêu

26
ngày nắng sớm, ghé lên vùng biên giới
đến Điện Biên là đến với núi rừng
lời gió nhắn, anh ru tình mong đợi
thương em nhiều trên từng nhánh Mường Phăng

27
là ngà say một vài ly Sâu Chít
bên cánh Đào giữa hồ nước Pá Khoang
em trao tay vào vòng thương díu dít
hoa mặt trời cũng rộ nở yêu đương

28
chiều Lai Châu, mưa dạt dào trong gió
từng giọt rơi nhè nhẹ xuống giữa đời
cuối trời xưa, Tây Bắc mờ sương ảo
thác Tác Tình trắng xóa cõi hoa mơ

29
hạt nước rơi như trái tim tình lỡ
tiếng dập dồn kể lể chuyện xa xưa
nàng Nở Lan và chàng trai thổi sáo
dư điệu buồn vang mãi trong gió mưa

30
chiều nhẹ xuống, lang thang miền Tam Đảo
nhìn mây xanh, mơ ước chiếc hôn nồng
gió mênh mang làm suối hồ ngơ ngáo
mai xa rồi, còn nhớ mãi Thái Nguyên

31
đảo Núi Cái, chiều nay mình ghé lại
chùa Thác Vàng, xin khấn nguyện lời xưa
theo gió gọi, tìm vào hang Huyền Thoại
Ba Cây Thông đứng đợi người dưới mưa

32
đêm tình si mơ màng theo Nhạc Nước
trái tim yêu trên đôi cánh thơ vàng
hồ Núi Cốc giữa mênh mông bờ nhớ
dòng sông Công, ngấn lệ ướt dịu dàng

33
chiều Tuyên Quang, ghé thăm miền sơn cước
hồ Na Hang tuyệt đẹp giữa núi rừng
óng ả xanh như mây trời tha thướt
dệt một làn thơ mộng dưới nắng say

34
động Song Long, cánh rồng bay huyễn ảo
muôn sắc màu lấp lánh đóa hoa cương
nẻo thiên thai trải dài trên lối dạo
thạch nhũ treo, kỳ thú những dạng hình

35
suối Mỹ Lâm, con dốc quanh sườn núi
đưa em về với tiếng hát bình yên
hồn thanh thản trôi theo làn nước ấm
ở giữa đời như lạc vào cõi riêng

36
núi Pắc Tạ nhìn giống loài voi quý
đang say sưa bên nậm rượu hữu tình
dáng uy nghiêm dưới vầng mây ẩn hiện
mặt trời xanh trên sóng nước lung linh

37
bóng cây Đa bên thôn làng Tân Lập
dưới tàng cây, ánh mát đến dịu dàng
buổi chiều nay, nhìn thấy em thơ dại
thác Bản Ba, hoa nở giữa đại ngàn

38
sáng mai này theo biển sông trở lại
tình quê hương vẫn còn mãi bên nhau
miền xứ Lạng, về đây năm tháng nhớ
ở trong anh cho đến kiếp đời sau

39
động Tam Thanh, cho nhau vòng tay ấm
em gởi trao kỷ niệm đã đong đầy
ngón tay thương trên bờ vai dĩ vãng
giữa cổng trời, anh vẽ cánh thơ mây

40
chiều ghé lại cõi sương mờ Tô Thị
hòn Vọng Phu ghi lại những nét buồn
người hóa đá đứng chờ trăm năm nhớ
giọt lệ gầy trên thảm cỏ hoàng hôn

41
chợ Kỳ Lừa vẫn còn chưa đóng cửa
màn đêm khuya, nhẹ phủ xuống cơn mưa
người tha phương giữa dòng đời sướt mướt
mắt lệ nhòa, ai hỏi ai về chưa

42
sông nước cũ trôi về nương Khe Chảo
tháng ngày thương giữa bờ bến mênh mông
đời ân nghĩa vẫn còn say mộng nhớ
tình quê hương, anh giữ mãi vào lòng

43
hồ Cấm Sơn một cõi trời nước biếc
Bắc Giang em vẫn đẹp nét cổ xưa
làng Thổ Hà, áo Tứ Thân nghiêng gió
nón Ba Tầm che mắt ướt trong mưa

44
cành lá xanh, cây Dã Hương nghìn tuổi
ai nhớ ai bên chén rượu Vân Hà
yêu em nhiều để đời không tiếc nuối
giọt lệ thương lóng lánh suối Nước Vàng

45
thác Ba Tia mơ màng bên triền đá
anh có em nơi thung lũng Huyền Đinh
thành Xương Giang, gió bay về yên ả
áng mây chiều vẽ lại dáng hình yêu

46
xứ Kinh Bắc gần kề bên sóng nước
óng ả chào với nhạc điệu dân ca
hương gió nhắn giữa chiều quê Đình Bảng
gọi nhau về làm xao xuyến tình ta

47
chiều Hội Lim, nắng dìu trên vai nhỏ
khăn Mỏ Quạ, em chít đẹp tóc huyền
anh giao duyên một chút gì Quan Họ
rồi mai đây, sẽ tìm đến Mời Trầu

48
dòng Tiêu Tương, chiều nay là sông cổ
tiếng Gọi Đò reo nhớ cả Bắc Ninh
lời mến thương, gởi về em sóng vỗ
chốn quê xưa, em đẹp với tháng ngày

49
sáng vừa lên, Hải Phòng mờ sương lạnh
làng Đông Khê nhè nhẹ trải nắng hồng
hoa Phượng Vĩ ngọc ngà khoe đôi cánh
nhớ thuở nào lưu bút vẽ nhánh thơ

50
bãi Cô Tô, hoàng hôn reo gió mộng
chiếc hôn mơ làm đẹp nét Tình Yêu
đêm Hồng Vàn, tương tư về soi bóng
ngọn sóng thương, dào dạt bến Trường Xuân

51
gió Vân Đồn chiều nay tha thướt gọi
Bái Tử Long, cơn sóng nhớ hôm nào
tình anh đó như mây trời giăng lối
đưa em về, thăm hỏi chốn quê xưa

52
bến Quan Lạn chiều nay ngàn sóng vỡ
tình cho nhau chớ vỡ đóa hoa yêu
em ngây dại như Bãi Dài chờ đợi
anh mơ màng chan chứa những niềm thương

53
sóng gọi nhau vẫn nồng nàn biển ấm
mây xa vời chớ theo gió quạnh hiu
này em hỡi, Minh Châu là bến đợi
đôi cánh tình đẹp mãi trong tim yêu

54
sáng sớm mai, ghé thăm miền Phật cảnh
tỉnh Quảng Ninh, lên cao với núi đồi
ánh từ bi theo về xua gió lạnh
xin nén nhang làm nguyện ước thanh bình

55
dãy Đông Triều, một khung trời Yên Tử
vùng đất lành có gió hát rừng reo
trên đỉnh núi, mây ngàn năm xuống ngự
khói hương thiền như tỏa cánh linh lung

56
bình minh sáng, nắng trải đầy Uông Bí
nơi chùa Trình còn dấu bước Hương Vân
một thuở đó, vua Nhân Tông ghé lại
bên Suối Tắm để rũ sạch bụi trần

57
chùa Giải Oan, vết rêu mờ cổ kính
tiếng chuông chiều còn gõ nhẹ âm vang
suối nước xưa trầm mình theo cơn mộng
mây gió về để giải nỗi hàm oan

58
khói Hoa Yên gợn hình ngôi chùa Cả
thuở hôm nào còn phủ nhánh mây xanh
am Ngọa Vân với la đà sương gió
rừng cây tùng như rồng múa uốn quanh

59
mây tràn về chiều nay trên núi đỉnh
ngôi chùa Đồng giữa cổng trời uy nghiêm
chốn Vân Tiêu, nén hương lòng dâng kính
non thiêng này, xá lợi tháp Huệ Quang

60
chiều gió mây đưa người về Một Mái
để thấy mình có Phật ở trong tâm
lời kinh khuya xin dâng lên tháp Tổ
trong cõi lòng là Yên Tử Trúc Lâm

Trường Đinh
UK, sương mù già 2018

Chú thích về các địa danh:
(Phỏng lược từ các tài liệu Wikipedia và một vài trang web liên quan)

+ Văn Miếu: Địa điểm tham quan nổi tiếng của thành phố Hà Nội, nằm ở phía nam kinh thành Thăng Long. Được xây dựng dưới thời vua Lý Thánh Tông (1070), là nơi thờ cúng đức Khổng Tử, Chu Công, Tứ Phối (Tứ Phối, 4 học trò xuất sắc của Khổng Tử là Nhan Tử, Tăng Tử, Tử Tư, Mạnh Tử) và 72 nhà Nho hiền triết. Năm 1076, Lý Nhân Tông cho lập Quốc Tử Giám ở bên cạnh Văn Miếu, là trường đại học đầu tiên của Việt Nam.

+ Chùa Một Cột: Còn gọi là chùa Mật, tên gọi theo tiếng Hán là Nhất Trụ Tháp, hoặc Liên Hoa Đài, được vua Lý Thái Tông cho khởi lập từ năm 1049. Đây là ngôi chùa có lối kiến trúc độc đáo, chỉ có một gian nằm trên một cột đá ở giữa hồ Linh Chiểu tại quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

+ Đền Ngọc Sơn: Một ngôi đền nằm trên đảo Ngọc của hồ Hoàn Kiếm ở Hà Nội. Trên cổng đền có ghi 3 chữ Đắc Nguyệt Lâu, có nghĩa là lầu hứng được trăng. Lúc trước gọi là chùa Ngọc Sơn, sau này đổi tên là đền Ngọc Sơn vì nơi này chỉ thờ thần và các vị anh hùng dân tộc.

+ Làng Gốm Bát Tràng: Đây là điểm tham quan nổi tiếng của làng nghề gốm sứ Việt Nam, nằm gần bờ sông Hồng, thuộc huyện Gia Lâm, cách Hà Nội khoảng 15 km. Khi đến với làng gốm Bát Tràng, du khách có thể ngắm nhìn các nghệ nhân làm việc, hoặc là chính mình tự tạo nắn lấy sản phẩm yêu thích.

+ Hồ Hoàn Kiếm: Còn gọi là hồ Gươm, là một hồ nước ngọt tự nhiên của thành phố Hà Nội. Nơi đây có nhiều quán ăn ngon, nổi tiếng nhất là món nộm bò khô. Sở dĩ gọi là hồ Hoàn Kiếm vì có truyền thuyết vua Lê Lợi hoàn trả cây gươm báu cho Rùa Thần, sau khi đã dùng cây gươm đó để chiến đấu và đánh đuổi quân Minh.

+ 36 Phố Phường: Tên gọi được nhiều người biết đến qua tác phẩm Hà Nội 36 Phố Phường của nhà văn Thạch Lam. Thuở xa xưa từ thời Lý Trần Lê, khu phố cổ Hà Nội có nhiều con đường có tên Hàng, như Hàng Cót, Hàng Buồm, Hàng Mã, Hàng Thùng, Hàng Bát, Hàng Giấy, Hàng Khay, Hàng Than, Hàng Bồ, Hàng Bạc, Hàng Đào... Mỗi hàng là một đường phố nhỏ chỉ bán duy nhất một loại sản phẩm. Về sau, từng mỗi khu phố có sự pha trộn với nhiều loại sản phẩm khác nhau. Ngày nay, ở Hà Nội có khoảng 53 khu phố bán nhiều thứ loại khác nhau. Tuy vậy, cũng có những khu phố vẫn giữ được truyền thống cũ như Hàng Thiếc, Hàng Chiếu và Hàng Mã, nhưng cũng có nhiều khu phố đã không còn bán những mặt hàng trên tên gọi như Hàng Hòm và Hàng Khoai.

+ Cầu Thê Húc: Cây cầu ở hồ Hoàn Kiếm, nối từ bờ hồ ra đền Ngọc Sơn trên một hòn đảo nhỏ, do danh sĩ Nguyễn Văn Siêu xây dựng vào năm 1865. Cầu được sơn màu đỏ sẫm, tên cầu có nghĩa là giữ lại ánh sáng đẹp của mặt trời buổi sáng.

+ Làng Lụa Hà Đông: Thuộc làng Vạn Phúc, cách trung tâm Hà Nội khoảng 10 km, nổi tiếng với nghề dệt lụa tơ tằm. Theo truyền thuyết kể rằng, cách đây trên 1000 năm có bà A Lã Thị Nương là vợ của ngài thái thú Cao Biền, đã truyền dạy nghề dệt lụa cho dân làng. Áo Lụa Hà Đông cũng thường được nhắc đến trong thi ca và phim ảnh, như Áo Lụa Hà Đông của nhạc sĩ Ngô Thụy Miên phổ thơ Nguyên Sa, và bộ phim Áo Lụa Hà Đông của đạo diễn Lưu Huỳnh đã từng đoạt giải thưởng liên hoan Châu Á.

+ Cây Cơm Nguội: Một loại cây xanh lá mùa xuân, vàng lá mùa thu, còn gọi là cây Sếu, là nét đặc trưng của mùa thu lá vàng Hà Nội. Sở dĩ gọi là cây Cơm Nguội vì trái của cây khi chín có mùi vị giống hạt cơm nguội. Trẻ em Hà Nội thường nô đùa dùng quả cơm nguội để làm đạn bắn cho các loại súng ống trúc.

+ Phố Hàng Đào: Một trong những dãy phố cổ của Hà Nội, nằm ở phía bắc hồ Hoàn Kiếm. Thời Pháp thuộc còn có tên gọi là Rue de la Soie, chuyên bán về các loại tơ lụa nhuộm màu. Phố Hàng Đào được xem là khu vực chính của 36 Phố Phường Hà Nội.

+ Hà Nội: Thủ đô của Việt Nam ngày nay, là một trong 5 thành phố lớn trên miền đất nước, cùng với Sài Gòn, Hải Phòng, Đà Nẵng và Cần Thơ. Các món đặc sản ở Hà Nội thì rất nhiều nhưng thú vị nhất là chả cá Lã Vọng (phố Chả Cá), nem tai (Hàng Thùng), bún gà mọc (Hàng Ngang), phở xào bắp bò (Hàng Buồm), mì tim (Hàng Giầy), lòng rán (Nguyễn Siêu), nem chua rán (Tạ Hiện), bún thang (Hàng Hòm), bún riêu (Hàng Bạc), nộm bò khô (Hồ Hoàn Kiếm), bánh tôm (Hồ Tây), bún đậu mắm tôm (Hàng Khay), bánh cuốn (Thanh Trì), bún chả (Hàng Quạt), phở xào (Hàng Thiếc), xôi rán (Hàng Điếu), hải sản (Cầu Gỗ) và mì sủi cảo (Hàng Chiếu).

+ Tây Hồ: Còn được gọi với nhiều tên khác nhau như Hồ Tây, Lãng Bạc, Hồ Kim Ngưu, Đầm Xác Cáo, Đoài Hồ... là một hồ nước ngọt tự nhiên lớn nhất ở Hà Nội. Là khu vực nổi tiếng với chùa Trấn Quốc có lịch sử trên 1500 năm và làng Nghi Tàm quê hương của Bà Huyện Thanh Quan.

+ Tháp Bút: Một ngọn tháp bằng đá, được xây dựng trên núi Độc Tôn vào năm 1865. Trên đỉnh tháp là một ngòi bút dựng ngược chỉ thẳng lên trời. Trên thân tháp có khắc 3 chữ Tả Thanh Thiên, có nghĩa là viết lên trời xanh.

+ Cây Hoa Sữa: Lá xanh thon, hoa vàng trắng nhạt, rộ nở vào mùa thu quanh vùng Hà Nội, có mùi hương dìu dịu nồng vào buổi tối đêm. Hoa Sữa biểu trưng cho tình yêu lãng mạn nhẹ nhàng ở những trái tim đầy chất thơ, thuần cảm và trinh khiết. Theo truyền thuyết kể rằng, khi xưa có một nàng con gái yêu thầm một chàng trai cùng xóm nhưng dấu kín trong lòng. Mỗi đêm chỉ dám tâm tình với cây cao trước nhà, loài cây không bao giờ nở hoa. Nhưng vào một ngày thu, gió heo may lành lạnh, cô nàng nhận được tin người mình yêu đã đính hôn với một người con gái khác. Cô buồn tủi và trút bỏ linh hồn để tìm đến nương vào trong thân cây và chỉ nở hoa vào mỗi thu về. Loài hoa ấy là hoa Sữa, một biểu tượng đẹp của niềm yêu thương thuần khiết.

+ Hồ An Vũ: Xưa kia gọi là đầm Lò Nồi (hay đầm Lọ Nồi), ngày nay là công viên Nam Hòa. Đây là một trong những khu du lịch nổi bật của tỉnh Hưng Yên, với đảo Cò nằm ở giữa hồ. Trên đảo có hơn 400 nghìn con cò với đủ các giống loại như cò đen, cò trắng, cò mỏ vàng, cò mỏ trắng...

+ Hưng Yên: Một tỉnh lỵ ở trung tâm đồng bằng sông Hồng, cách Hà Nội khoảng 64 km, giáp ranh giới với Bắc Ninh, Hải Dương, Hà Nội, Thái Bình và Hà Nam. Hưng Yên là vùng đất có nhiều nhân vật nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam như Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Thiện Thuật, Hải Thượng Lãn Ông, Đoàn Thị Điểm, Phạm Công Trứ, Chu Mạnh Trinh... Đặc sản nổi tiếng ở Hưng Yên gồm có nhãn lồng phố Hiến, gà Đông Tảo (còn gọi là gà Đông Cảo), sen Nễ Châu, tương Bần Yên Nhân, bún thang Thế Kỷ, bánh dày làng Gàu, bánh cuốn Sài Thị, ếch om Phượng Tường và chả gà Tiểu Quan.

+ Phố Hiến: Một địa danh nổi tiếng của tỉnh Hưng Yên, nằm bên bờ sông Hồng, là một thương cảng nhộn nhịp giữa thế kỷ 13-17. Ngày nay, phố Hiến là một khu phố cổ yên tĩnh và thanh bình, lịch sử văn hóa gắn liền với phong tục tập quán của Hoa Nhật Việt và Âu Châu. Phố Hiến được biết đến với những đền đình xưa cổ như Văn Miếu, chùa Chuông, chùa Hiến, đền Trần, đền Mẫu, đền Mây... Đặc biệt nơi chùa Hiến có cây nhãn tổ trên 300 năm tuổi.

+ Làng Nôm: Một trong những ngôi làng cổ đặc trưng của vùng đất Hưng Yên, thuộc xã Đại Đồng, huyện Văn Lâm, cách Hà Nội khoảng 30 km. Nơi đây có cây cầu Đá và chùa Nôm với hàng trăm pho tượng Phật. Cây cầu Đá (dân địa phương gọi là cầu Nôm) có độ tuổi trên 2 thế kỷ, gồm 9 nhịp với lối kiến trúc chạm khắc hoa văn rất độc đáo.

+ Đền Phượng Hoàng: Đền thờ nữ thánh Cúc Hoa, thuộc xã Minh Tiến, huyện Phù Cừ. Sự tích Cúc Hoa có ghi lại trong truyện thơ Tống Trân Cúc Hoa, được diễn lại qua những vở chèo dân tộc ở các tỉnh Hưng Yên và Thái Bình. Cúc Hoa là người con gái xinh đẹp và giàu có, sống rất nhân hậu thủy chung, tôn trọng lẽ phải và luôn giúp đỡ những kẻ nghèo khó.

+ Bắc Kạn: Một tỉnh miền núi thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam, giáp ranh giới với các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên và Tuyên Quang. Các món đặc sản ở Bắc Kạn là rau sắng (rau ngót rừng), rau dớn, rau dạ hiến, miến dong Na Rì, bánh gio Bắc Kạn (bánh tro), tôm chua Ba Bể, bánh Coóc Mò, lạp xưởng lợn hun khói, cá nướng Ba Bể, bánh ngải, khâu nhục, thịt lợn gác bếp, xôi Đăm Đeng, măng vầu (măng đắng), mứt mận và mèn mén.

+ Hồ Ba Bể: Một hồ nước ngọt ở Bắc Kạn, là một trong số 100 hồ nước ngọt lớn nhất thế giới. Hồ được hình thành cách đây hàng triệu năm, là dòng chảy hợp lưu của 3 nhánh Pé Lầm, Pé Lù và Pé Lèng. Theo truyền thuyết kể rằng, khi xưa có một con giao long hóa thành người đàn bà ăn mày vào làng xin thức ăn nhưng không ai cho, duy chỉ có mẹ con bà góa là giúp đỡ cơm nước và cho ngủ nhờ. Con giao long trả ơn, đã tặng cho mẹ con 2 mảnh vỏ trấu để dùng khi lũ lụt. Ngày hôm sau có cơn lũ lớn cuốn trôi ngôi làng và dân chúng. Mẹ con bà lão góa dùng vỏ trấu để biến thành 2 con thuyền cứu vớt dân làng. Cả ngôi làng bị ngập nước thì hóa thành 3 cái hồ lớn. Từ đó, người dân gọi là hồ Ba Bể. Giữa hồ là một hòn đảo nhỏ, gọi là Gò Bà Góa.

+ Động Nàng Tiên: Một hang đá tự nhiên ở xã Lương Hạ, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn, nhìn từ xa có dáng vẻ một thiếu nữ nằm ngủ. Hang động ăn sâu xuống lòng núi khoảng 60 m, cửa động cao trên 6 m. Bên trong động có nhiều mảng thạch nhũ hình thù tuyệt đẹp, giống như là các tiên nữ múa bay linh lung huyền ảo, với những dòng nước mát lạnh chảy quanh gọi là ruộng Tiên, suối Tiên. Theo truyền thuyết kể rằng, thuở xa xưa có 7 nàng tiên hạ giới vui chơi bên con suối dưới chân núi Phja Trạng. Vì mãi vui đùa quên cả trời tối nên không kịp bay về trời. Trời thương nên làm phép tạo ra một hang động gần bên suối cho các cô tiên ngủ qua đêm. Từ đó, người dân địa phương gọi là động Nàng Tiên.

+ Thác Bản Giốc: Một thác nước cao 70 m, thuộc xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Là một trong những ngọn thác thiên đường có nét quyến rũ tự nhiên và đẹp nhất của Việt Nam. Vào những ngày nắng, đứng trên cao nhìn xuống có thể thấy Cầu Vồng bảy sắc phản chiếu trên thác nước. Ngọn thác chia làm 2 nhánh là chính và phụ. Nhánh chính nằm giữa biên giới Việt Nam và Trung Quốc, với dòng sông Quây Sơn. Nhánh phụ nằm trên lãnh thổ Việt Nam. Thác Bản Giốc được xem là ngọn thác lớn nhất của vùng Đông Nam Á và là thác nước biên giới nổi tiếng đứng hàng thứ 4 trên thế giới (3 ngọn thác nổi tiếng khác là thác Iguazu giữa Ba Tây - Á Căn Đình, thác Victoria giữa Zambia - Zimbabwe, và thác Niagara giữa Gia Nã Đại - Hoa Kỳ).

+ Núi Cô Muông: Ngọn núi thẫm xanh bên dòng thác Bản Giốc hùng vĩ, nhìn dáng núi xa xa với cảnh nét ảo mộng, đầy vẻ huyền bí và hoang vu gió lộng.

+ Động Ngườm Ngao: Còn gọi là động Ngao (có nghĩa là hang hổ) thuộc xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, cách thác Bản Giốc khoảng 5 km. Là một động đá tuyệt đẹp với những nhũ thạch có trăm nghìn hình dạng khác nhau, nhìn rất hoang nhiên nhưng đầy vẻ hấp dẫn. Theo truyền thuyết kể rằng, thuở xa xưa đây là hang động của các loài hổ dữ thường xuống làng bắt gia súc nên đã bị dân làng đặt bẫy giết hết. Động Ngườm Ngao là một trong những địa điểm du lịch chính của miền sơn cước Cao Bằng.

+ Cao Bằng: Một tỉnh lỵ thuộc miền Đông Bắc Việt Nam, giáp ranh giới Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Kạn và Lạng Sơn. Đây là vùng đất nổi tiếng với hạt dẻ Trùng Khánh. Đặc biệt hơn nữa, Cao Bằng còn có các món đặc sản hấp dẫn và ngon lạ như xôi trám, bánh khẩu sli, bánh trứng kiến, vịt quay 7 vị, bánh cóng phù, bánh áp chao, bánh khảo, bánh cuốn canh, phở chua, cháo nhộng ong, rau dạ hiến và chè dây.

+ Núi Đôi Quản Bạ: Thuộc thị trấn Tam Sơn, huyện Quản Bạ, là biểu tượng của tỉnh Hà Giang. Theo truyền thuyết kể rằng, thuở xa xưa có chàng trai người Mông có tài thổi đàn môi. Tiếng đàn ríu rít của chàng đã làm đắm mê nàng tiên Hoa Đào trên thượng giới. Hoa Đào tìm xuống trần gian để gặp chàng, kết duyên vợ chồng và có một bé trai. Ngọc Hoàng biết được sai người xuống bắt Hoa Đào. Hoa Đào van xin ở lại để chăm sóc con trẻ nhưng Ngọc Hoàng không cho phép. Nàng bỏ lại bầu vú để cho con bú, và trở về thượng giới chịu phạt. Bầu vú Hoa Đào ngày nay là núi Đôi, còn gọi là núi Cô Tiên.

+ Lũng Cẩm Trên: Một ngôi làng văn hoá của người Mông, thuộc xã Sủng Là, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang. Vùng đất yên bình này được biết đến qua bộ phim "Chuyện Của Pao", với bối cảnh một ngôi nhà cổ trong bản làng. Bộ phim đoạt giải Cánh Diều Vàng 2005 của Hội Điện Ảnh Việt Nam.

+ Hang Lùng Khúy: Một hang động mới được khám phá vào năm 2015 ở thôn Lùng Khúy, xã Quản Bạ, tỉnh Hà Giang, cách thị trấn Tam Sơn khoảng 10 km. Được mệnh danh là đệ nhất động của vùng cao nguyên đá Đồng Văn. Hang động có chiều dài khoảng 300 m với 2 cửa hang và những nhũ đá hình thù kỳ lạ. Nếu gõ vào tường đá, tiếng vang lên như những nốt nhạc huyễn hoặc mê lung.

+ Tam Giác Mạch: Một loài hoa ở vùng núi Hà Giang, sắc màu hồng quyến rũ, nằm trong các kẽ đá Lũng Cú, Đồng Văn, trên những cánh đồng mênh mông Xín Mần, Hoàng Su Phì, và bên những tường nhà Sủng Là, Phó Bảng. Thân cây non có thể luộc ăn, hạt khô thì xay thành bột làm lương thực, hoặc nấu với ngô làm rượu. Vì cây nảy chồi từ mày lúa mày ngô nên gọi là mạch, lá có hình tam giác, cho nên cây hoa này gọi là Tam Giác Mạch.

+ Đồng Văn: Một huyện phố cổ của tỉnh Hà Giang đã có trên hàng trăm năm tuổi. Đồng Văn giáp ranh giới với các huyện Yên Minh và Mèo Vạc. Nằm sát biên giới Trung Quốc, có cột cờ Lũng Cú trên đỉnh núi Rồng (Long Sơn) xây dựng từ thời Thái Úy Lý Thường Kiệt (1019-1105), làm ranh giới ở cuối cực bắc Việt Nam. Tại Đồng Văn còn có khu di tích nhà cổ của vua Mèo, tức là dinh thự họ Vương, với lối kiến trúc xưa rất độc đáo.

+ Mã Pí Lèng: Còn đọc là Mã Pì Lèng, có nghĩa là "sóng mũi ngựa", được biết đến là một trong những con đèo hiểm trở trong danh sách Tứ Đại Đỉnh Đèo của Việt Nam. Đỉnh Mã Pí Lèng có độ cao trên 1200 m và chiều dài 20 km, thuộc cao nguyên đá Đồng Văn. Nằm trên con đường núi dọc theo sông Nho Quế, nối liền thành phố Hà Giang với 4 huyện Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn và Mèo Vạc. Đèo Mã Pí Lèng có nhiều khúc quanh co theo triền núi rất thú vị để người lữ khách nhớ mãi về sau. Theo cái nhìn của du khách viếng thăm, 3 ngọn đèo u hiểm khác trong Tứ Đại Đỉnh Đèo là Ô Quy Hồ, Khau Phạ và Pha Đin.

+ Mèo Vạc: Một huyện nhỏ thuộc tỉnh Hà Giang, gần biên giới Trung Quốc. Địa hình của huyện chủ yếu là núi đá vôi và sông Nho Quế chảy ngang qua. Tại huyện Mèo Vạc, đặc biệt có phiên chợ Khau Vai, còn gọi là chợ Phong Lưu, đã có từ trên 100 năm nay. Chợ chỉ họp mỗi năm một lần vào ngày 27 tháng 3 âm lịch. Những đôi trai gái sẽ cùng hẹn nhau về để gặp gỡ trao duyên trong ngày này, nhắc nhở nhau chuyện tình xưa, vấn vương cho nhau những kỷ niệm đẹp, trao gởi cho nhau những mẫu chuyện tình đời, và nhìn lại những giai thoại mến yêu xưa. Những đôi vợ chồng các sắc tộc Mông/Dao/Tày/Giáy cũng cùng nhau đến chợ, chồng thì tìm lại bạn yêu xưa của chồng, vợ thì tìm lại người yêu cũ của vợ, để đôi lứa cùng nhau chuyện trò những yêu đương dĩ vãng một thuở bên nhau.

+ Thác Tiên: Một suối thác đẹp lãng mạn của tỉnh Hà Giang, nhìn từ xa giống như mái tóc của nàng Tiên trải dài theo sườn núi xuống chân thác.

+ Hà Giang: Một tỉnh thuộc vùng núi phía bắc Việt Nam, giáp ranh giới với Cao Bằng, Yên Bái, Lào Cai và Tuyên Quang. Nơi huyện Đồng Văn của tỉnh Hà Giang có cột cờ Lũng Cú làm ranh giới giữa Việt Nam và Trung Quốc. Hà Giang nổi tiếng với cao nguyên đá Đồng Văn, trải rộng trên 4 huyện Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn và Mèo Vạc, đã được UNESCO công nhận là "công viên địa chất toàn cầu", danh hiệu duy nhất ở Việt Nam. Kể từ 2015, Hà Giang đặc biệt có lễ hội hoa Tam Giác Mạch tổ chức vào tháng 10 mỗi năm. Hà Giang có nhiều món ăn độc đáo như cháo ấu tẩu, bánh cuốn trứng, xôi ngũ sắc, thắng cố, thịt trâu gác bếp, rượu ngô, thắng đền và chè Tuyết Shan.

+ Đèo Khau Phạ: Ngọn đèo quanh co và dốc đứng bậc nhất ở Việt Nam, cao 2100 m, giáp ranh với Văn Chấn và Mù Cang Chải của tỉnh Yên Bái. Trên đường đèo, mịt mờ sương phủ và đỉnh đèo nhô cao lên mây trời. Theo tiếng dân tộc Thái, Khau Phạ có nghĩa là sừng trời. Người Mông xem đèo Khau Phạ là nơi chốn linh thiêng có thể đến khấn vái để gởi lời than thấu đến trời cao.

+ Mù Cang Chải: Còn viết là Mù Căng Chải, vùng đất Rẻo Cao Tây Bắc, thuộc tỉnh Yên Bái. Nổi tiếng với các thửa ruộng bậc thang. Lễ hội ruộng bậc thang Mù Cang Chải được tổ chức vào tháng 9 mỗi năm. Người dân Yên Bái còn gọi vùng đất này là xứ Mù, hay là "biển mây Khau Phạ".

+ Suối Giàng: Một thị xã thuộc huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái. Được biết đến với các loại đá quý có vân hoa tím xanh. Suối Giàng nổi tiếng với các nương chè Tuyết Shan của người Mông.

+ Cánh Đồng Mường Lò: Nằm ở thị xã Nghĩa Lộ, huyện Văn Chấn, cách thành phố Yên Bái 80 km. Là cánh đồng lớn thứ 2 của vùng núi Tây Bắc (cánh đồng Mường Thanh lớn thứ nhất). Mường Lò nổi tiếng với hoa Ban, gạo nếp, xôi ngũ sắc, thổ cẩm, sông Ngòi Thia và các điệu múa xòe Thái dân tộc.

+ Hồ Thác Bà: Còn được ví là "Hạ Long trên núi". Là một hồ nước nhân tạo, có công trình thuỷ điện lớn đầu tiên ở Việt Nam, với trên 1331 hòn đảo lớn nhỏ. Đặc sản là cơm lam, nộm hoa chuối rừng, thịt gà đồi nấu lá chanh, lợn mán quay và gỏi cá tôm.

+ Suối Bản Chao: Nằm ở thị trấn Tú Lệ, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái, có suối nước nóng thuộc Bản Chao với tục lệ tắm trần (tắm tiên). Vào những chiều mát, các cô gái Thái kéo tụ về, hồn nhiên tắm trần bên dòng suối trữ tình và thơ mộng này. Du khách đến tham quan cũng có thể tắm chung với người dân địa phương. Riêng giới nữ thì được tắm ở đầu nguồn suối nơi chỗ nước trong xanh hơn.

+ Yên Bái: Một tỉnh lỵ thuộc miền núi phía bắc Việt Nam, có trên 200 sông suối đầm hồ lớn nhỏ. Đặc sản của Yên Bái bao gồm gạo nếp, xôi ngũ sắc, táo mèo, chè Tuyết Shan, thịt trâu gác bếp, cá tiểu bạc, dế mèn Mường Lò, rau Cải Mèo, bánh chưng đen, bánh chuối Lục Yên, cốm tan Tú Lệ, muồm muỗm ráng, bọ xít chiên giòn, rau dớn, măng sát, rêu suối Mường Lò và lạp xưởng Yên Bái.

+ Bản Ngòi Tu: Một bản làng nhỏ thuộc xã Vũ Linh, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái. Là điểm đến hấp dẫn cho du khách, bởi phong cảnh đẹp hoang sơ, các món ăn dân dã đậm vị, các điệu múa dân ca truyền thống, và đặc biệt là nơi hội tụ văn hoá đặc sắc của đồng bào miền cao như Dao, Cao Lan và Nùng.

+ Mộc Châu: Một huyện lỵ của tỉnh Sơn La, là vùng đất cao nguyên rộng lớn với những đồi chè xanh hình dạng chữ S, vòng cung và trái tim, đẹp như bức tranh vẽ trên núi đồi. Mộc Châu được biết đến với nhiều cảnh đẹp thiên nhiên và ẩm thực đặc sản rất phong phú. Ngoài sản phẩm chè xanh, còn có các món nổi tiếng khác như nậm Pịa của dân Thái nấu với lòng dê, bê chao, cá suối nướng, lợn mán, thắng cố, cơm lam, kẹo dồi, chẳm chéo, bò hun khói, thịt trâu gác bếp, rượu táo mèo, ốc đá lá chua, gỏi cá hồi, xôi ngũ sắc, canh khoai sọ và cải mèo xào nấm.

+ Dải Yếm: Còn gọi là Thác Nàng, cao khoảng 100 m, thuộc xã Mường Sang, cách thị trấn Mộc Châu khoảng 5 km. Theo truyền thuyết kể rằng, khi xưa có đôi trai gái yêu nhau, chàng lên đường đánh giặc cướp ở biên cương. Chàng hẹn thề khi giết giặc xong sẽ về với nàng bên dòng thác. Khi giặc đã bị tiêu diệt hết, dân làng trở về nhưng không thấy bóng chàng. Nàng con gái mỗi chiều ngồi bên thác nước đợi chờ trong vô vọng. Rồi một đêm, nàng chợt biến mất. Dân làng cho rằng nàng đã kiệt sức bị thác nước cuốn trôi. Nhìn về ngọn thác từ xa, dòng chảy xuống thật mịn màng duyên dáng như một dải lụa trắng của nàng con gái trinh nguyên miền sơn cước. Vì vậy, dân làng đặt tên cho thác nước này là Dải Yếm. Ngọn thác khởi nguồn từ những khe nước ở Bản Vặt (nơi người Thái đến định cư đầu tiên).

+ Ngủ Động: Tên đầy đủ là Ngũ Động Bản Ôn, gồm 5 hang động bí hiểm với những nhũ thạch đủ mọi hình dáng kỳ lạ. Ngũ Động nằm sâu dưới một quả núi thuộc Bản Ôn của thị trấn Mộc Châu, nổi bật với cảnh sắc linh lung và huyền bí, gắn liền với học thuyết ngũ hành "Kim Mộc Thủy Hoả Thổ".

+ Sơn La: Một tỉnh miền núi phía Tây Bắc Việt Nam, có diện tích rộng lớn đứng hàng thứ 3 trong tổng số 63 tỉnh thành phố. Sơn La giáp ranh giới với các tỉnh Yên Bái, Điện Biên, Lai Châu, Phú Thọ và Thanh Hóa. Mộc Châu là một trong những huyện lỵ nổi tiếng của tỉnh Sơn La, với thác nước Dải Yếm mềm mại và duyên dáng như bờ tóc ngoan, áo yếm mỏng, dải lụa trắng của những nàng sơn cước Mường Sang.

+ Rừng Thông Bản Áng: Một dãy rừng thông xanh mướt ở xã Đông Sang, huyện Mộc Châu, nằm bên cạnh bờ hồ Bản Áng linh lung huyền ảo. Gần như tất cả nơi đây đều là màu xanh, xanh của núi rừng, xanh của hàng thông, xanh của đồng ruộng, xanh của mây trời, xanh của hồ nước, xanh của rong rêu, xanh của thảm cỏ và xanh của gió mùa, đã tạo nên nét quyến rũ thơ mộng đặc biệt cho bản làng Đông Sang.

+ Động Sa Lai: Còn gọi hang Nước, hay hang Dơi. Gọi tên như vậy là vì khi xưa đây là hang động của các loài dơi cư ngụ, bên trong hang có mạch nước ngầm tuôn chảy quanh năm. Tên Sa Lai là do người Thái gọi, dân địa phương ngày nay gọi là Sơn Mộc Hương. Theo truyền thuyết kể rằng, khi xưa có một con rồng ngao du khắp chốn, khi thấy cảnh đẹp nơi đây đã dừng lại làm chỗ nghỉ đêm. Rồng trả ơn đã nhả 7 viên ngọc châu làm thành 7 quả núi cho hang động. Vì vậy, cảnh sắc nơi đây thay đổi rất đặc biệt, sáng sớm thì trắng ngần, buổi trưa thì xanh biếc, giữa chiều thì rực hồng, hoàng hôn thì tím thẳm.

+ Dốc Thung Khe: Một trong những con dốc dài quanh co và hiểm trở, chạy dọc theo quốc lộ 6 trên đoạn đường từ Hà Nội đến thị trấn Mộc Châu và hang Dơi.

+ Hoa Ban Trắng: Một loài hoa của núi rừng, biểu trưng cho tình yêu chung thủy. Theo truyền thuyết kể rằng, khi xưa ở vùng Tây Bắc có một cô gái xinh đẹp tên Ban được nhiều trai mường ái mộ, nhưng nàng chỉ đem lòng thương một chàng trai nghèo tên Khum. Cha nàng muốn gả Ban cho một chàng trai giàu có gù lưng và lười biếng. Nàng biết được nên bỏ trốn, chạy tìm Khum để cầu cứu nhưng Khum đã vào rừng săn bắn. Nàng để lại mảnh khăn trắng làm tin, rồi chạy vào rừng để tìm Khum. Vì quá mệt mỏi, nàng Ban nằm chết giữa núi rừng. Nơi đó sau này mọc lên cây hoa trắng. Dân mường biết chuyện, gọi hoa đó là hoa Ban. Riêng chàng Khum khi trở về thấy mảnh khăn trắng thì cũng chạy vào rừng để tìm Ban. Ngày đêm tìm kiếm, Khum kiệt sức chết và biến thành con chim sống lẻ loi nơi núi rừng. Cứ mỗi xuân về, khi mùa hoa Ban rộ nở là lúc con chim lẻ loi cất tiếng kêu tình da diết với âm điệu ai oán thảm buồn.

+ Điện Biên: Một tỉnh miền núi ở vùng Tây Bắc, nằm gần các tỉnh Sơn La và Lai Châu của Việt Nam, giáp biên giới với Trung Quốc và Lào. Tên gọi Điện Biên là do vua Thiệu Trị đặt năm 1841, có nghĩa là "vùng biên giới vững chãi". Thành phố của Điện Biên là Điện Biên Phủ.

+ Vườn Anh Đào Mường Phăng: Với hàng ngàn cây Anh Đào xinh tốt, được trồng trên một hòn đảo nhỏ ở giữa hồ Pá Khoang, thuộc xã Mường Phăng của vùng núi Điện Biên.

+ Rượu Sâu Chít: Là đặc sản của miền rừng núi Lai Châu và Điện Biên ở vùng Tây Bắc. Rượu Sâu Chít có vị ngọt, bổ dưỡng tinh tủy, chữa chứng đau lưng và suy nhược thần kinh. Mùa sâu chít vào khoảng tháng 10 đến tháng 12 âm lịch, bướm sẽ đẻ trứng vào cây Chít, trứng biến thành sâu và sống trong thân cây Chít. Sâu Chít được bán tươi, hoặc sấy khô, hoặc bán tính theo ngọn Chít. Sâu Chít đem ngâm với rượu khoảng 12 tháng thì uống là ngon nhất, có thể dùng để chữa bệnh và duy trì sức khỏe tốt.

+ Hồ Pá Khoang: Một hồ nước trong mát nằm cạnh những cánh rừng xanh bạt ngàn của vùng Điện Biên, cách trung tâm thị xã Điện Biên khoảng 20 km.

+ Lai Châu: Một tỉnh miền biên giới thuộc vùng Tây Bắc Việt Nam, giáp ranh với Điện Biên, Lào Cai, Yên Bái, Sơn La và Trung Quốc. Nằm cách thủ đô Hà Nội khoảng 450 km. Lai Châu có nhiều cao nguyên, suối hồ, đồi núi và ghềnh thác. Nổi bật nhất là thác Tác Tình, đỉnh Chu Va, đèo Ô Quy Hồ và cánh đồng Mường Than. Đặc sản của Lai Châu rất nhiều, bao gồm lợn cắp nách, cá bống vùi tro, xôi tím, thịt lợn gác bếp, măng nộm hoa Ban, nộm rau dớn, rêu đá nướng, canh rêu đá, canh tiết lá đắng, rượu ngô, lam nhọ (thịt trâu nướng nhừ), thịt trâu sấy, ve sầu rán và cá nướng Thái.

+ Vùng Tây Bắc: Còn gọi là Tây Bắc Bắc Bộ, là vùng miền núi phía Tây của miền bắc Việt Nam, có chung đường biên giới với Lào và Trung Quốc. Tây Bắc có 6 tỉnh là Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai và Yên Bái, trong đó Sơn La có diện tích lớn nhất và dân số nhiều nhất.

+ Thác Tác Tình: Còn gọi là thác Tình, có độ cao trên 100 m, thuộc xã Bình Lư, huyện Tam Đường. Là một trong những địa điểm du lịch hấp dẫn của tỉnh Lai Châu. Vào những ngày nắng đẹp, ngọn thác Tác Tình có ánh cầu vồng 7 màu phản chiếu trên sóng nước dọc theo các ghềnh đá, nhìn rất lãng mạn và thơ mộng.

+ Nở Lan: Tên một nàng con gái miền sơn cước rất xinh đẹp, thuộc dân tộc Dao, sống với bản làng trên vùng cao nguyên Phong Thổ - Tam Đường. Theo truyền thuyết kể rằng, Nở Lan yêu một chàng trai nghèo trong bản làng. Chàng trai này rất giỏi về thổi sáo, có tiếng sáo buồn làm thổn thức trái tim nàng. Một chiều, nàng tìm đến chàng bên bờ thác nước để được nghe tiếng sáo và 2 người đã yêu nhau. Từ đó, mỗi chiều đôi trai gái tìm đến nhau bên dòng thác để trao gởi tâm tình theo tiếng sáo mộng mơ. Chuyện tình trớ trêu thay, cha nàng Nở Lan lại muốn ép gả nàng cho một Tạo bản giàu có. Nàng biết được nên bỏ trốn và buồn khổ trầm mình xuống dòng thác để mong giữ vẹn thủy chung với Người thương. Chàng biết nàng bỏ trốn nên vào thác nước để tìm nàng. Vì quá tuyệt vọng và buồn đau cho nàng Nở Lan, chàng cũng trầm mình xuống dòng nước để chết theo nàng. Dân làng xót thương nên gọi tên thác đó là thác "Tác Tình", có nghĩa là mong ước tác hợp chuyện tình dang dở của 2 người để được nên duyên vợ chồng một kiếp mai sau.

+ Tam Đảo: Dãy núi ranh giới giữa Thái Nguyên với Vĩnh Phúc và Tuyên Quang. Gọi là Tam Đảo vì nơi đây có 3 ngọn núi nhô lên giữa mây trời là Thạch Bàn, Thiên Thị và Phù Nghĩa. Dãy núi chạy dài 80 km, được hình thành từ các dòng nham thạch của núi lửa hàng triệu năm trước đã phun ra và chồng chất lên nhau. Trên Tam Đảo có nhiều suối thác nước lớn và có một động vật đặc hữu là loài cá cóc bên dưới bụng có hoa vàng (còn gọi là tắc kè nước, hay thằn lằn nước).

+ Thái Nguyên: Một tỉnh lỵ miền Đông Bắc Việt Nam, cách trung tâm Hà Nội khoảng 75 km. Theo Hán Việt tự điển, Thái Nguyên có nghĩa là cánh đồng to lớn, hay một vùng đất rộng lớn. Nơi đây có nhiều địa danh nổi tiếng như đồi chè Tân Cương, hồ Núi Cốc, hang Phượng Hoàng, suối Mỏ Gà, đền Đuổm, hồ Vai Miếu, thác Nặm Rứt, thác Khuôn Tát, chùa Hang... Đặc sản của Thái Nguyên rất nhiều, nổi bật nhất là bánh nếp Coóc Mò, bánh chưng Bờ Đậu, cơm lam Định Hóa, trám đen Hà Châu, chè xanh Tân Cương, tương nếp Úc Kỳ, đậu phụ Bình Long, nem chua Đại Từ, mì gạo Hùng Sơn, tôm cuốn Thừa Lâm, xôi thập cẩm Thái Nguyên, bánh ngải Phú Lương và măng đắng Ngàn Me.

+ Đảo Núi Cái: Là hòn đảo lớn nhất trong số 89 đảo trên hồ Núi Cốc, được biết đến là khu trưng bày các sản phẩm làng nghề truyền thống. Nơi đây lưu giữ hơn 2000 hiện vật văn hóa của hơn 90 làng nghề thủ công truyền thống của cả nước Việt Nam qua các triều đại khác nhau. Trên Núi Cái còn có 108 bậc thang để dùng leo lên đảo và có ngôi Nhà Cổ hơn 200 năm tuổi bằng gỗ lim quý hiếm.

+ Chùa Thác Vàng: Nằm ở khu du lịch sinh thái Hồ Núi Cốc. Ngôi chùa được tạo hình bên trong một bức tượng Phật Thích Ca khổng lồ cao 45 m. Đây là điểm hành hương nổi tiếng của vùng Núi Cốc để các du khách Phật tử về đây lễ lạy trong những dịp ghé thăm. Trong khu vực này còn có các động Huyền Thoại, Thủy Cung, Ba Cây Thông, Âm Phủ, Chợ Tình và sân khấu Nhạc Nước Đêm. Đây là những điểm đến rất thú vị, đặc biệt với các mê cung huyền ảo và sóng nước cung đàn reo trong đêm.

+ Chuyện Tình Ba Cây Thông: Ở hồ Núi Cốc còn có một huyền thoại về tình yêu đẫm lệ giữa 1 cô gái và 2 chàng trai. Theo truyền thuyết kể rằng, thuở xa xưa có 2 chàng trai sinh đôi giống nhau như đúc, sống trên núi và làm nghề đốn củi. Một hôm người anh xuống núi, gặp cô gái xinh đẹp và đem lòng yêu mến nàng. Ngày hôm sau, người em xuống núi và cũng mê đắm nhan sắc của nàng con gái ấy. Cô gái cũng yêu thương đáp lại nhưng không hề biết là đã yêu 2 anh em giống nhau như vậy. Chuyện tình tay 3 tiếp diễn và cùng nhau hẹn ước đính hôn. Vào ngày hẹn để kết duyên vợ chồng, 3 người gặp nhau trong ngỡ ngàng nước mắt. Ngọc Hoàng thương cảm đã biến 3 người thành 3 cây thông lớn để được đứng gần bên nhau suốt đêm ngày.

+ Chuyện Tình Sông Công Núi Cốc: Theo truyền thuyết kể rằng, thuở xa xưa có chàng trai nghèo làm nghề đốn củi tên Cốc, sống cô đơn một mình với cây sáo trúc. Vào một ngày nắng hạn, chàng đến xin làm công cho ông Quan Lang trong làng và duyên mệnh gặp nàng con gái đẹp tên Công rất giỏi múa hát, là con của ông Quan Lang giàu có. Nàng Công đem lòng yêu thương chàng Cốc qua những điệu sáo buồn. Quan Lang phản đối chuyện tình 2 người, đem nhốt nàng Công trong nhà và tìm cách giết chết chàng Cốc. Cốc trốn chạy vào rừng, mong nhớ chờ đợi nàng Công tìm đến. Vì quá khổ sầu tuyệt vọng, chàng Cốc đứng chết hóa thành ngọn núi đá. Nước mắt nàng Công ngày đêm tuôn chảy và thân xác nàng cũng rã tan thành một dòng sông lớn. Dân làng địa phương thương tiếc cho chuyện tình ngang trái của 2 người nên đã đặt tên cho khu vực này là sông Công và núi Cốc.

+ Tuyên Quang: Một tỉnh lỵ thuộc vùng Tây Bắc Việt Nam, giáp ranh giới với Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Phú Thọ và Yên Bái. Món đặc sản ở Tuyên Quang bao gồm cơm lam, lợn đen xào lăn, lạp xưởng Suối Khoáng, bánh nếp nhân trứng kiến, bánh cuốn cà cuống, bún chấm, rượu ngô Na Hang, cam sành Hàm Yên, gỏi cá Bỗng sông Lô, thịt trâu gác bếp, mắm cá ruộng Chiêm Hóa, măng khô lưỡi lợn, xôi ngũ sắc, bánh khảo, bánh gai Chiêm Hóa và bánh bao chiên.

+ Hồ Na Hang: Na Hang còn gọi là Nà Hang, có nghĩa là "ruộng cuối", hay "ruộng dưới thung lũng". Là một huyện trong tỉnh Tuyên Quang. Nơi đây có hồ nước trong xanh thơ mộng, còn đầy vẻ hoang sơ của miền sơn cước.

+ Động Song Long: Là một danh thắng quốc gia, thuộc xã Khuôn Hà, huyện Lâm Bình. Hang động có chiều sâu trên 200 m, với nhiều cột nhũ thạch hình thù kỳ quái.

+ Suối Nước Khoáng Mỹ Lâm: Còn gọi là Suối Khoáng Sun Phua, thuộc xã Phú Lâm, huyện Yên Sơn, cách trung tâm thị xã Tuyên Quang khoảng 13 km. Là một dòng suối thơ mộng và bình yên, với làn nước trong veo ấm áp. Nơi đây có khu nghỉ dưỡng suối nước khoáng Mỹ Lâm được xây dựng vào năm 1965, có dịch vụ tắm nước khoáng nóng và tắm bùn khoáng.

+ Núi Pắc Tạ: Theo tiếng Tày, chữ Pắc Tạ có nghĩa là "vú của trời". Còn có tên gọi là núi Voi, vì dáng núi có hình dạng giống con voi đứng bên bình rượu. Đây là ngọn núi có hình dáng lạ nhất và cao nhất ở huyện Nà Hang.

+ Cây Đa Tân Trào: Cây Đa to lớn với nhiều thân cành và gốc rễ kỳ lạ, nằm cách đình Tân Trào khoảng 500 m, thuộc thôn Tân Lập, xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.

+ Thác Bản Ba: Là một trong những danh thắng kỳ vĩ của miền đất Tuyên Quang. Ngọn thác nằm bên triền núi Phiêng Khàng, thuộc thôn Bản Ba, xã Trung Hà, huyện Chiêm Hóa, cách trung tâm thành phố Tuyên Quang khoảng 70 km.

+ Lạng Sơn: Còn gọi là xứ Lạng, một tỉnh lỵ ở vùng Đông Bắc Việt Nam. Lạng Sơn có trên 365 lễ hội truyền thống dân tộc. Trung tâm của tỉnh là thành phố Lạng Sơn cách biên giới Việt Nam - Trung Quốc 18 km, có dòng sông Kỳ Cùng chảy ngược qua. Thuở xa xưa, vào thời nhà Đinh, nơi đây (vùng đất Đình Pác Mòng) có vị anh hùng Đinh Bộ Lĩnh đã tiến đến dẹp loạn giặc thù. Đời nhà Trần, khoảng thế kỷ 13, Lạng Sơn được biết đến với tên là Lạng Châu Lộ, về sau đổi tên là trấn Lạng Sơn. Những điểm du lịch nổi bật ở vùng đất này là thành nhà Mạc, ải Chi Lăng, núi Mẫu Sơn, động Nhị Thanh, hồ Âm Ty, núi Phật Chỉ, cùng với những cửa khẩu lớn và các khu phố chợ sầm uất. Đặc sản Lạng Sơn gồm có lợn sữa quay, bánh cuốn trứng, vịt quay, khâu nhục, bánh ngải, phở chua, phở vịt quay, bánh Cao Sằng, ếch hương, gà sáu cựa nướng và đào tiến vua.

+ Động Tam Thanh: Nằm trên ngọn núi Tô Thị thuộc phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn. Là một địa điểm du lịch nổi tiếng của xứ Lạng. Cửa động Tam Thanh cao khoảng 8 m ở giữa lưng chừng núi, trong động có 3 hang là Nhất Thanh, Nhị Thanh và Tam Thanh. Nơi đây cũng được biết đến là chùa Tam Thanh, có nét đẹp cổ kính và huyền ảo kỳ bí, vì ngôi chùa nằm trong động núi đá với những nhũ thạch rũ xuống đẹp tuyệt vời. Trong chùa còn có hồ Âm Ty với làn nước trong xanh tuôn chảy bốn mùa. Tam Thanh được mệnh danh là "đệ nhất bát cảnh xứ Lạng", ngày nay trên vách động còn để lại dấu khắc bài thơ của ngài đốc trấn Ngô Thì Sĩ (1726-1780). Bên trong chùa Tam Thanh có tượng Phật A Di Đà màu trắng cao 202 m, được tạc nổi vào vách đá từ thế kỷ 15.

+ Núi Tô Thị: Còn gọi là núi Vọng Phu, ở phường Tam Thanh, thuộc thành phố Lạng Sơn. Trên đỉnh núi có tảng đá người mẹ bồng con nhìn về cõi xa xăm, là sự tích nàng Tô Thị chờ chồng đi đánh giặc ở phương bắc. Hòn Vọng Phu nổi tiếng với các bài thơ đề vịnh của các cụ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du. Năm 1991, tượng đá bị sụp đổ. Ngày nay, bức tượng Tô Thị đã được dựng lại bằng xi măng để thay thế vị trí tượng đá cũ.

+ Chợ Kỳ Lừa: Còn gọi là chợ đêm Kỳ Lừa, nằm tại đường Thân Công Tài ở trung tâm thành phố Lạng Sơn. Chợ mở cửa từ sáng sớm cho đến tối khuya (6 giờ sáng đến 11 giờ đêm), có bày bán đủ các loại đồ dùng và thực phẩm ăn uống, đặc biệt là món vịt quay Lạng Sơn với lá Mác Mật nổi tiếng thơm ngon và độc đáo nhất của miền xứ Lạng.

+ Hồ Khe Chảo: Còn gọi là hồ Khe Chão (dấu ngã), một hồ nước rộng lớn và yên bình, nằm dưới chân núi Hạ My, thuộc địa phận xã Long Sơn, huyện Sơn Động, cách thị trấn An Châu khoảng 25 km. Là một trong những điểm đến hấp dẫn của tỉnh Bắc Giang. Chung quanh hồ là những dãy rừng nguyên sinh của vùng Tây Yên Tử.

+ Hồ Cấm Sơn: Một hồ nước đẹp trữ tình có chiều dài 30 km, ở địa phận huyện Lục Ngạn, là hồ nước có diện tích lớn nhất của tỉnh Bắc Giang. Nằm giáp ranh giới với Lạng Sơn, trải dài theo những dãy núi cao ngút ngàn. Hồ Cấm Sơn đã đi vào âm nhạc, được biết đến qua tác phẩm dân ca quan họ nổi tiếng với tựa đề Hồ Trên Núi của nhạc sĩ Phó Đức Phương (1971).

+ Bắc Giang: Một tỉnh miền núi thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam, giáp ranh giới với Lạng Sơn, Quảng Ninh, Thái Nguyên, Hà Nội, Bắc Ninh và Hải Dương, cách Hà Nội khoảng 50 km. Đặc sản của Bắc Giang gồm có rượu làng Vân, vải thiều Lục Ngạn, cam sành Bố Hạ, bánh đa Thổ Hà, bánh đa Dĩnh Kế, mì Chũ, bún Đa Mai, chè kho Mỹ Độ, xôi trứng kiến Lục Ngạn, cua da, bánh đúc Đồng Quan, bánh vắt vai và gà đồi Yên Thế.

+ Làng Thổ Hà: Nằm tại xã Vân Hà, huyện Việt Yên. Nơi đây vẫn còn giữ được nguyên vẹn những nét đẹp văn hóa truyền thống của vùng Bắc Giang. Tìm đến làng Thổ Hà, du khách sẽ đến với cây đa, bến nước, sân đình, áo Tứ Thân, nón Ba Tầm và khăn Mỏ Quạ. Trước đây, làng Thổ Hà nổi tiếng về nghề gốm. Ngày nay, ngôi làng này còn được biết đến với nghề làm bánh đa và mì gạo.

+ Áo Tứ Thân: Một loại trang phục hàng ngày của phụ nữ miền bắc trước thế kỷ 20. Ngày nay chỉ dùng trong những dịp lễ hội truyền thống. Phía bên trong áo Tứ Thân là chiếc yếm mỏng, loại màu nặng dùng cho phụ nữ lớn tuổi, loại màu nhẹ cho các cô gái trẻ. Yếm có các loại cổ xây (cổ khoét tròn), cổ xẻ (cổ khoét chữ V) và cổ nhạn (cổ khoét chữ V sâu thấp xuống).

+ Nón Ba Tầm: Một loại nón để tránh nắng mưa rất phổ biến của phụ nữ miền bắc thuở xa xưa. Ngày nay, Ba Tầm chỉ dùng trong những dịp lễ hội lớn. Nón Ba Tầm được lợp bằng lá cọ, có dạng hình như cái lọng, và ở giữa lòng nón có cái khùa để giữ chặt chiếc nón trên đầu. Hai bên vành nón thì kết đôi chùm chỉ thao để làm duyên, vì vậy nên Ba Tầm còn được gọi là nón Quai Thao.

+ Cây Dã Hương: Cây cổ thụ đã trên 1000 năm tuổi, ở xóm Giữa, xã Tiên Lục, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Cây Dã Hương ở Bắc Giang được biết đến là cây xanh ngàn tuổi duy nhất trên thế giới, được xếp là di sản quốc gia Việt Nam. Chu vi thân cây to trên 17 m khoảng 8 người dang hai tay ôm. Là nơi thu hút hấp dẫn khách du lịch trong và ngoài nước, đặc biệt vào khoảng cuối xuân thì cây nở hoa vàng nhìn rất uy nghi bề thế.

+ Làng Rượu Vân Hà: Ngôi làng nổi tiếng về đặc sản rượu (với nhãn hiệu là rượu làng Vân), đã được dùng làm lễ vật để tiến vui thời phong kiến. Nằm tại huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

+ Suối Nước Vàng: Một suối nước với màu vàng óng ánh quanh năm, nằm trên dãy núi Phật Sơn, thuộc xã Lục Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

+ Thác Ba Tia: Một thác nước đẹp hoang dã thuộc xã Tuấn Mậu, huyện Sơn Động, cách thành phố Bắc Giang khoảng 80 km.  Ngọn thác Ba Tia là đầu nguồn của con suối Nước Vàng ở xã Lục Sơn, huyện Lục Nam.

+ Thung Lũng Huyền Đinh: Một thung lũng đẹp lãng mạn nằm dưới chân núi Huyền Đinh của tỉnh Bắc Giang. Núi Huyền Đinh có độ cao khoảng 600 m, thuộc huyện Lục Nam, Bắc Giang. Bên dãy Huyền Đinh có khu du lịch sinh thái Suối Mỡ ở xã Nghĩa Phương, một danh thắng đẹp và cũng là địa điểm tâm linh nổi tiếng của tỉnh Bắc Giang.

+ Thành Cổ Xương Giang: Được xây dựng vào thế kỷ 15 (1407) với lối kiến trúc độc đáo, nằm tại xã Đông Nham, ở phía đông bắc của thành phố Bắc Giang.

+ Xứ Kinh Bắc: Một địa danh cũ ở phía bắc Việt Nam, bao gồm 2 tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh, cùng với một số vùng lân cận ở Hà Nội (Gia Lâm, Long Biên, Đông Anh, Mê Linh, Sóc Sơn), Hưng Yên (Văn Giang, Văn Lâm) và Lạng Sơn (Hữu Lũng). Những danh nhân nổi tiếng ở Kinh Bắc là Lý Công Uẩn, Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Âu Cơ và Phù Đổng Thiên Vương.

+ Đình Bảng: Một ngôi đình nằm ở làng Đình Bảng (xưa là làng Cổ Pháp, tên Nôm là làng Báng), thuộc thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Ngôi đình được xây dựng vào đầu thế kỷ 18, thờ các vị thần núi, thần nước, thần đất và những người có công lập nên ngôi làng thuở xa xưa.

+ Hội Lim: Một lễ hội truyền thống của tỉnh Bắc Ninh, được tổ chức từ ngày 11 đến hết ngày 14 tháng Giêng âm lịch hàng năm ở huyện Tiên Du, chính hội là ngày 13. Các làn điệu dân ca quan họ nổi tiếng như Gọi Đò và Mời Trầu, được trình bày bởi các Liền Chị (người phụ nữ hát quan họ) và các Liền Anh (người nam giới hát quan họ) trên các chiếc thuyền rồng. Trong dịp lễ hội còn có nhiều trò chơi dân gian khác như đấu võ, đấu vật, đấu cờ, đánh đu tiên, thi dệt cửi, nấu cơm, bịt mắt bắt dê, bịt mắt đập niêu... Đặc sắc nhất là đêm hát thi Quan Họ giữa các làng Quan Họ vào tối ngày 12.

+ Khăn Mỏ Quạ: Loại khăn vuông màu đen mà phụ nữ Việt Nam thời xa xưa hay thường dùng, được chít thành hình góc nhọn như cái mỏ quạ ở trước trán.

+ Sông Tiêu Tương: Một con sông cổ ở làng Cổ Bi, nay thuộc phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Dòng Tiêu Tương đã bị phủ lấp từ thời Hồ Quý Ly, ngày nay chỉ còn lại một khúc nhỏ ở xóm Bà La, Đình Bảng. Tuy vậy, con sông Tiêu Tương hiền hòa vẫn còn mãi trong tâm thức của người dân Bắc Ninh. Một trong những câu chuyện lịch sử gắn liền với dòng sông Tiêu Tương là chuyện tình Trương Chi và Mỵ Nương.

+ Bắc Ninh: Một tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng, nằm tại khu trọng điểm kinh tế bắc bộ, cách Hà Nội khoảng 30 km. Là vùng đất của miền quê Quan Họ, giáp ranh giới với Hà Nội, Bắc Giang, Hải Dương và Hưng Yên. Bắc Ninh là trung tâm của xứ Kinh Bắc cổ xưa, ngày nay vẫn còn duy trì nhiều lễ hội văn hóa truyền thống, nổi bật nhất là hội chùa Dâu, hội Lim, hội đền Đô và hội đền Bà Chúa Kho. Các món đặc sản của Bắc Ninh bao gồm thịt chuột Đình Bảng, nem Bùi Ninh Xá, bún làng Tiền, bánh tẻ làng Chờ, bánh khúc làng Diềm, tương Đình Tổ, bánh phu thê Đình Bảng và cháo thái Đình Tổ.

+ Hải Phòng: Còn gọi là Đất Cảng, hay thành phố Cảng, cũng được mệnh danh là thành phố Hoa Phượng Đỏ (hoa Phượng Vĩ). Hải Phòng là thành phố lớn thứ 3 của Việt Nam sau Sài Gòn và Hà Nội, giáp ranh giới với Quảng Ninh, Hải Dương, Thái Bình và biển Đông, cách Hà Nội khoảng 120 km. Những tên tuổi nổi bật của vùng bến cảng Hải Phòng trên lãnh vực âm nhạc hiện đại gồm có nhạc sĩ Văn Cao, Hoàng Quý, Đoàn Chuẩn, Đỗ Nhuận, Trần Chung và Ngô Thụy Miên. Nơi xóm Trại, ở phường Đằng Giang quận Ngô Quyền, có cây đa cổ thụ 13 gốc đã trên 307 năm tuổi, là một trong những địa điểm du lịch tâm linh nổi tiếng của thành phố Hải Phòng.

+ Làng Đông Khê: Một thôn làng ở xã Đông Khê, thuộc quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, nằm giữa 2 công viên An Biên và Phương Lưu. Trong khu vực Ngô Quyền còn có chùa Nguyệt Quang, chùa Đỏ, chùa An Đà và đền Tiên Nga là những địa điểm tâm linh nổi tiếng của Hải Phòng. Đặc biệt nơi chùa Đỏ có tượng Phật bằng gỗ mít lớn nhất Việt Nam, do nghệ nhân Đoàn Trúc đúc tạc và chạm khắc.

+ Hoa Phượng Vĩ: Còn có tên gọi là hoa Học Trò vì mùa hoa Phượng nở là thời điểm kết thúc một niên học, mùa chia tay bạn bè và mái trường, để lại những dấu ấn đẹp với nhiều kỷ niệm vui buồn của lứa tuổi học trò. Thành phố Hải Phòng ở khu vực miền bắc Việt Nam, còn gọi là thành phố Hoa Phượng Đỏ, có trên 9 ngàn cây Phượng Vĩ trên khắp các đường phố và sân trường.

+ Cô Tô: Có tên cổ là Chàng Sơn, tức Núi Chàng. Là một quần đảo nằm ngoài khơi tỉnh Quảng Ninh, với ánh hoàng hôn vẩy sáng như dát bạc vàng giữa bầu trời và mặt biển. Vào mùa hè, mặt trời Cô Tô lặn muộn, mây trời chuyển dần từ màu xanh sang màu hồng, rồi màu vàng cam huyền ảo. Nắng chiều tàn với sắc màu óng ánh, nhìn rất lãng mạn và đẹp mắt. Cô Tô là khu du lịch nổi tiếng hoang sơ với các hồ nước ngọt Trường Xuân và Đồng Tiến, bãi tắm Tình Yêu, mũi đá Cầu Mỵ, bãi Vàn Chải và bờ cát trắng Hồng Vàn.

+ Vân Đồn: Một huyện đảo thuộc tỉnh Quảng Ninh miền bắc Việt Nam, gần 800 năm tuổi với những di tích văn học đặc sắc, có trên 600 hòn đảo lớn nhỏ vòng quanh phía Đông và Đông Bắc của Vịnh Bái Tử Long.

+ Vịnh Bái Tử Long: Một vịnh biển ở tỉnh Quảng Ninh. Theo truyền thuyết, nước Việt bị giặc ngoại xâm, Ngọc Hoàng đã sai một đàn rồng hạ giới để phun ra vô số châu ngọc làm thành rào cản các thuyền bè của quân giặc. Nơi rồng mẹ đáp xuống gọi là Vịnh Hạ Long. Nơi các rồng con đáp xuống gọi là Vịnh Bái Tử Long.

+ Đảo Quan Lạn: Khu du lịch nổi tiếng nằm trên Vịnh Bái Tử Long, với nét đẹp mơ màng và hoang nhiên, cách thành phố Hạ Long 55 km. Phương tiện di chuyển chính trên đảo Quan Lạn là xe lam 3 bánh Túc Túc, rất thú vị khi đi qua những đồi cát trắng thơ mộng với gió mát dịu êm.

+ Bãi Dài: Một bãi biển đẹp với tên gọi mộc mạc, nằm trên Vịnh Bái Tử Long, ở khoảng giữa cảng Cái Rồng và cảng Vạn Hoa, thuộc huyện Vân Đồn. Ngày nay, Bãi Dài là khu du lịch sinh thái hấp dẫn với nét đẹp hoang sơ và quyến rũ tự nhiên.

+ Bến Minh Châu: Một bãi tắm rất đẹp ở huyện Vân Đồn, với những bờ cát trắng muốt đi không dính chân, cách bãi tắm Quan Lạn khoảng 15 km. Minh Châu được khách du lịch xem là bãi biển đẹp nhất của vùng đảo Quan Lạn Quảng Ninh.

+ Quảng Ninh: Một tỉnh miền ven biển, thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam. Nơi đây có trên 2000 hòn đảo nổi trên mặt biển. Thuở phong kiến xa xưa, Quảng Ninh có các tên gọi khác nhau như Lục Châu, Lộ Đông Hải, Lộ Hải Đông, Trấn An Bang, Quảng Yên. Ngày nay Quảng Ninh có biệt danh là Đất Mỏ. Miền Quảng Ninh đa số là núi đồi, sông hồ, biển đảo và đồng bằng. Nơi đây có nguồn tài nguyên than đá, là địa điểm trọng yếu khai thác chính của Việt Nam. Có 4 thành phố là Hạ Long, Cẩm Phả, Móng Cái và Uông Bí. Đây là điểm du lịch lớn hàng đầu của Việt Nam với những di sản thiên nhiên hùng vĩ và kỳ thú như Hạ Long, Bái Tử Long, Bãi Cháy, Tuần Châu và Cô Tô. Quảng Ninh còn có những di tích lịch sử nổi tiếng như bãi cọc Bạch Đằng, thương cảng Vân Đồn, đền Cửa Ông và quần thể núi Yên Tử.

+ Núi Yên Tử: Còn có tên gọi là Bạch Vân Sơn, là ngọn núi cao nhất của dãy vòng cung Đông Triều thuộc tỉnh Quảng Ninh. Trên núi có nhiều ngôi chùa đền am tháp với đầy nét cổ kính và uy nghiêm. Ngày nay, Yên Tử có hệ thống cáp treo để giúp các du khách trên đường hành hương được thuận tiện hơn. Nơi đây có nhiều di tích lịch sử nổi tiếng như am Ngọa Vân, tháp Tổ, chùa Cả, suối Giải Oan, thác Bạc, thác Vàng, chùa Lân, chùa Đồng, chùa Bảo Sái và tượng đá An Kỳ Sinh.

+ Uông Bí: Một thành phố của tỉnh Quảng Ninh, nằm dưới chân dãy núi Yên Tử. Các điểm du lịch chính ở thành phố là hang Son, động Bảo Phúc, núi Yên Tử, hồ Yên Trung, Lựng Xanh và chùa Ba Vàng.

+ Chùa Trình: Ngôi chùa đầu tiên để các Phật tử và du khách đến dâng hương trước khi lên Yên Tử. Chùa Trình nằm bên một dòng suối nhỏ mà khi xưa vua Trần Nhân Tông đã ghé tắm, để tẩy rửa bụi trần trước khi dâng hương cúng Phật. Vì vậy, người dân địa phương gọi dòng suối này là Suối Tắm.

+ Hương Vân: Là pháp hiệu của vua Trần Nhân Tông khi xuất gia tu hành trên núi Yên Tử. Ngài còn có các đạo hiệu khác như Trúc Lâm Đại Đầu Đà, Trúc Lâm Đại Sĩ và Điều Ngự Giác Hoàng.

+ Chùa Giải Oan: Còn gọi là chùa Hạ của khu di tích Yên Tử (chùa Trung là chùa Hoa Yên và chùa Thượng là chùa Đồng). Nơi đây có cây cầu Giải Oan do vua Trần Nhân Tông cho xây dựng để giải oan các linh hồn đã tuẫn tiết vì mình. Dòng suối ven bên được gọi là suối Giải Oan, là nơi mà 100 cung nữ đã trầm mình xuống suối nước để tỏ lòng trung với vua Trần Nhân Tông khi đức vua đến Yên Tử tu hành.

+ Chùa Hoa Yên: Còn gọi là chùa Cả, chùa Phù Vân, hay chùa Vân Yên, nằm ở độ cao 543 m, với những hàng cây tùng rậm nét đã trên hàng trăm năm tuổi. Chùa Hoa Yên là ngôi chùa lớn nhất ở vùng núi Yên Tử, có nhiều bức tượng được đúc bằng đồng nguyên thủy (2 ngôi chùa nổi bật khác là chùa Giải Oan và chùa Đồng).

+ Am Ngọa Vân: Nơi đức vua Trần Nhân Tông tu hành khổ hạnh và đã tịch hóa tại đây (1308). Ngài được vua Trần Anh Tông suy tôn là "Đại Thánh Trần Triều Trúc Lâm Đầu Đà Tịnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Tổ Phật".

+ Chùa Đồng: Còn gọi là Thiên Trúc Tự, nằm ở độ cao 1068 m, được đúc bằng đồng nặng trên 70 tấn. Nơi đây thờ Phật Thích Ca và 3 vị tổ dòng thiền Trúc Lâm (còn gọi là Trúc Lâm Tam Tổ: Điều Ngự Giác Hoàng, Pháp Loa và Huyền Quang). Chùa Đồng là một trong những ngôi chùa Phật giáo được đúc bằng đồng nguyên chất nặng nhất và lớn nhất trên thế giới.

+ Chùa Vân Tiêu: Vân Tiêu có nghĩa là "tan mây". Xưa kia, nơi đây chỉ là một am tu hành nhỏ, có tên gọi là Am Tử Tiêu. Ngày nay là nơi tu tập của các vị tăng sĩ Phật giáo Yên Tử.

+ Tháp Huệ Quang: Còn gọi là Huệ Quang Kim Tháp, nằm gần chùa Hoa Yên, là ngôi tháp Tổ cất giữ xá lợi của vua Trần Nhân Tông. Trong khu vực Huệ Quang có 97 ngọn tháp thờ phụng các vị thiền sư đã hóa thân vào cõi Phật.

+ Chùa Một Mái: Còn gọi là Bán Thiên Tự, chùa có tên gọi như vậy vì một nửa chùa nhô ra bên ngoài trời và một nửa còn lại thì nằm ẩn sâu trong hang động. Trong ngách hang chùa có một núm đá, nước nhỏ giọt suốt đêm chưa đầy một bát cơm. Chùa Một Mái là ngôi chùa duy nhất ở Yên Tử có các tượng thờ hoàn toàn bằng đá trắng.

+ Thiền Viện Trúc Lâm: Nằm trên núi Yên Tử, còn gọi là chùa Lân, hay chùa Long Động, được xem là ngôi thiền viện lớn nhất của Việt Nam, sau công trình xây dựng được khởi xướng bởi hòa thượng Thích Thanh Từ (Viện trưởng Thiền Viện Trúc Lâm Đà Lạt) cùng với công đức đóng góp của các Tăng Ni Phật tử trong và ngoài nước. Ngôi thiền viện đã hoàn tất và khánh thành ngày 11 tháng 11 năm 2002 nhân dịp ngày sinh của vua Trần Nhân Tông.



No comments:

Post a Comment